Chả nhái

Chả nhái

Chả nhái

Nếu đã nhiều lần ra Hà Nội, chắc hẳn bạn sẽ nghe qua món chả nhái – cái tên chỉ mới nghe qua cũng khiến không ít người nổi da gà.

Vốn dĩ là một món ăn nổi tiếng của miền Bắc nhưng chỉ có ở Hà Nội người ta mới có cách chế biến độc đáo, mang lại hương vị đậm đà, đặc trưng và quyến rũ cho món chả nhái.

Có lẽ nhiều người đã từng nếm qua các món làm từ ếch, cóc nhưng nhái thì mấy ai biết đến. Cũng phải bởi món ăn làm từ ếch, cóc thì rất đa dạng, phong phú tuy nhiên món ăn rất giàu chất đạm làm từ nhái thì hẳn nhiều người chưa nếm, thậm chí chưa một lần nghe tới. Thế nhưng, nếu ai đã một lần thưởng thức món này chắc chắn bạn sẽ không bao giờ quên hương vị thơm ngon, giòn tan của nó.

Để làm món chả nhái cũng cực chẳng kém so với cóc, ếch. Nếu món thịt chó được độc quyền với cái tên “cầy tơ 7 món” thì nhái cũng có thể chế biến được thành 7 món khác nhau.

Nào nhái tẩm bột rán giòn, nhái tẩm gia vị chiên cả con, lẩu nhái, nhái xào sả ớt… Trong đó, chả nhái là món chế biến cầu kì nhất nên cũng được mọi người tấm tắc cho là ngon nhất, kể ra thì cũng bõ công người làm.

Công phu người làm

Để làm được món chả nhái đúng điệu, nhái sau khi bắt về phải được rửa sạch, đem lột da (sau khi lột da thì tuyệt nhiên không được rửa lại bằng nước vì nếu có nước vào món chả sẽ mất đi mùi vị đặc trưng của nó), sau đó đem băm nhỏ cả thịt lẫn xương lại cho vào cối giã nhuyễn như giã giò. Càng giã nhuyễn bao nhiêu thì khi ăn càng ngon bấy nhiêu. Thịt nhái phải được quết làm sao để chày dính bết vào thịt, lúc đó mới thực sự nhỏ mịn.

Công đoạn tiếp theo là tẩm ướp gia vị cho thịt thấm trước khi chiên giòn.

Cũng giống như thịt gà, món chả nhái phải dùng nhiều sả, lá chanh và ớt thì mới có mùi vị thơm ngon, không nhầm lẫn với bất kì món nào.

Sả, lá chanh, ớt bằm thật nhỏ mịn rồi đem trộn với muối, bột ngọt, đường, tiêu, nước mắm sau đó đem quết với thịt nhái cho thấm gia vị rồi trộn với một chút bột chiên tôm để miếng chả được phồng, giòn khi chiên. Cũng có nhiều người thêm vào một chút thì là băm nhỏ để mang lại mùi vị mới cho món chả nhái này.

Lại nói về cách chiên chả nhái. Để có món chả nhái thật sự vàng ươm, phồng nở, giòn rụm phải để dầu sôi thật già, chỉnh lửa đúng nhịp, khi chiên nhất định miếng chả phải ngập trong dầu thì mới phồng to lên được, như vậy chả mới ngon, thơm khi thưởng thức.

Một điểm nữa để tạo nên nét đặc trưng cho món chả nhái là nước chấm đi kèm. Những người sành ăn thì cho rằng nước chấm món chả nhái hợp nhất là có thêm mùi cà cuống.

Tuy nhiên, một chén nước chấm món chả nhái nhất thiết phải hội tụ đủ 5 màu sắc đỏ, xanh, vàng, nâu, đen của các loại gia vị ớt, rau thơm, nước chấm, hạt tiêu, cà cuống thì mới đạt tiêu chuẩn.

Sắc màu cho chả nhái

Vừa lòng người ăn

Coi vậy chứ chả nhái không hề kén người ăn. Hầu như nó làm hài lòng với mọi lứa tuổi. Nếu những cụ già răng yếu chân run vẫn ăn được món chả nhái giòn rụm, mềm mịn bởi công sức giã thịt của người làm thì đám thanh niên, dân nhậu lại tấm tắc, gật gù bởi mùi vị và sự hòa quyện tuyệt vời của nó với vị cay, nồng của rượu, của bia.

Trẻ em cũng không ngoại lệ. Tay cầm miếng chả nhái vàng ươm cũng đủ để giữ chân những đứa trẻ hiếu động, nghịch ngợm nhất. Với phụ nữ, chả nhái chẳng những là món ăn cung cấp lượng chất đạm phong phú mà còn là món ăn ưa thích.

Nhưng cầm miếng chả nhái vàng ruộm bạn cũng khoan vội thưởng thức mà hãy rắc thêm chút lá chanh xắt sợi để làm món ăn thêm dậy mùi. Nhẹ nhàng đưa miếng chả lên gần miệng, hít hà vị béo giòn, thơm ngậy khiến cho các thần kinh căng lên, nước miếng ứa đầy trong miệng.

Khi ăn nhất thiết phải cắn sao cho miếng chả ngập hơn phân nửa trong miệng, khi cắn nghe phập một tiếng để miếng chả giòn tan ngay trong miệng. Đó mới chính là lúc cảm nhận hết được mùi vị thơm ngon, đặc trưng của món ăn này.

Màu vàng của chả, màu đỏ của ớt, xanh của rau, lấm tấm màu của gia vị vàng làm cho món chả nhái thêm bắt mắt. Mùi thơm nồng nàn, lan tỏa, xộc ngay vào mũi không thể cưỡng khiến bạn chỉ muốn nhón một miếng bỏ vào miệng để thoả mãn sự thèm thuồng. Ăn một miếng muốn miếng thứ hai, càng ăn càng thấy thích. Càng ăn bao nhiêu càng ghiền bấy nhiêu tưởng chừng như không biết ngán.

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Advertisements

Chả gà Tiểu Quan – dân dã ẩm thực Phố Hiến

Chả gà Tiểu Quan - dân dã ẩm thực Phố Hiến

Chả gà Tiểu Quan – dân dã ẩm thực Phố Hiến

Hưng Yên không chỉ nổi tiếng với nhãn lồng mà còn được biết đến với chả gà Tiểu Quan – món ăn dân dã ngay từ tên gọi, nguyên liệu đến cách chế biến và phong thái thưởng thức.

Chả gà Tiểu Quan

Chả gà Tiểu Quan là món ăn nổi tiếng, có xuất xứ từ thôn Tiểu Quan, thuộc xã Phùng Hưng, huyện Khoái Châu, Hưng Yên.

Người già trong thôn kể lại rằng ngày xưa vào mỗi dịp lễ tết, dân ở đây không có thức gì ngon ngoài mấy con gà vườn nhà. Để chế biến ra nhiều món lạ miệng, những người phụ nữ đã sáng tạo và truyền nhau cách làm món chả gà. Vì có hương vị thơm ngon, lạ miệng nên không lâu sau món ăn này đã được người khắp vùng biết đến.

Chả gà Tiểu Quan được làm cầu kỳ từ việc chọn nguyên liệu đến từng công đoạn. Công đoạn nào cũng thể hiện nét dân dã, đặc trưng đồng nội của người vùng quê.

Bãi cỏ xanh mơn mởn ven làng là nơi người quê nuôi thả những chú gà to khỏe. Gà nuôi béo, cao, thịt chắc sẽ được chọn làm món chả gà. Đặc biệt hơn, phải dùng thịt gà nạc, tách bỏ hết da, xương.

Ở món chả gà truyền thống, người ta thường dùng cối đá để giã bởi thịt sẽ mịn hơn. Người giã phải biết ước lượng để dừng lại đúng lúc. Nếu dừng sớm quá chả sẽ không mềm, mịn, nhưng giã kỹ quá thì sẽ bị nát. Lúc giã cũng nên cho gia vị vào giã cùng để chả đậm và đều vị hơn… Ngoài ra, còn có vỏ quýt khô được giã nhuyễn, trộn đều với thịt để món ăn thêm vị cay và thơm đặc trưng.

Công cụ để làm chả gà truyền thống còn có vỉ nướng làm bằng tre và chiếc mo cau để phết thịt lên vỉ khi nướng. Khi phết thịt nướng cần tinh ý để trải thịt đều, không quá mỏng cũng không quá dày. Nếu phết mỏng quá thịt sẽ dễ bị chảy qua khe vỉ, trong khi dày thì khó nướng chín chả.

Do làm chả gà dễ bị khô và sát nên người xưa thường cho thêm chút mỡ lợn trộn cùng với thịt đã nhuyễn để nướng. Đặc biệt, với người làng Tiểu Quan xưa, để có được lát chả gà thơm nhất thì phải dùng củi từ thân và cành nhãn khô.

Chả gà thường được ăn kèm với xôi, cơm trắng, được xem là một trong những món chính trong mâm cỗ ngày tết. Trong cái lạnh đầu đông, thật thú vị khi gia đình được quây quần quanh bếp nướng, thưởng thức và cảm nhận vị thơm của thịt gà, vị béo của mỡ phần và vị cay của vỏ quýt…

Từ những nguyên liệu từ đồng quê, chả gà Tiểu Quan nay là một trong những món ăn hấp dẫn của văn hóa ẩm thực Hưng Yên. Trong thời buổi hiện đại, dù không thiếu sơn hào hải vị và công cụ làm món chả gà Tiểu Quan cũng được cải tiến nhiều, nhưng một đĩa chả gà có giá trị hơn hẳn vì đó là tình cảm của mẹ, của bà dành cho cả gia đình vào mỗi dịp gia đình đoàn tụ.

Và nếu muốn được thưởng thức hương vị ấy, bạn hãy thử tìm về làng Tiểu Quan một lần.

Đăng tin: Văn Lâm

Cây chè

Cây chè

Cây chè

Cây chè được coi là một trong những cây dài ngày có mặt rất sớm ở Lâm Đồng và hiện có diện tích lớn nhất nước. Từ năm 1927, người Hà Lan đã bắt tay xây dựng Sở trà Cầu Đất (xã Xuân Trường, Đà Lạt) với quy mô khai khẩn là 1.000ha. Năm 1930, Sở trà Cầu Đất được chuyển giao cho Công ty PIT (Plantation Indochinoise de Thé) của Pháp. Từ sở trà này cây chè phát triển ra khắp vùng Lâm Viên và cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc. Hiện nay, toàn tỉnh có diện tích chè 25.455ha phân bổ ở Đà Lạt, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm và Bảo Lộc; trong đó Bảo Lộc và Bảo Lâm chiếm một diện tích lớn (gần 20 ngàn ha).

Từ những năm 1995 trở về trước, giống chè trồng ở Lâm Đồng chủ yếu là giống chè lai tạp trồng bằng hạt nên năng suất không cao. Liên tục nhiều năm qua, một cuộc cách mạng về giống chè đã làm thay đổi chất lượng trên các vườn chè của Lâm Đồng. Đó là các giống chè mới: TB 14, LĐ 97, LDP.1, Kim Xuyên, Tứ Quý, Thuý Ngọc, Ô Long,… trồng trên diện tích 7.215ha, chiếm 28,6% tổng diện tích chè hiện có.

Hiện nay, toàn tỉnh có 45 doanh nghiệp chế biến kinh doanh trà, riêng Công ty Chè Lâm Đồng có 7 nhà máy chế biến và 1 liên doanh với công suất 5.500 – 7.500 tấn sản phẩm/năm. Bên cạnh đó, 20 công ty đầu tư nước ngoài chế biến 7.000 – 8.000 tấn sản phẩm/năm, tương đương với 35.000 – 40.000 tấn chè búp tươi. Ngoài ra, cả tỉnh có trên 70 danh trà, công suất chế biến bình quân 1.500 kg chè tươi/ngày/cơ sở. Sản phẩm chè chế biến chủ yếu là chè đen OTD và khoảng 15% là chè xanh.

Theo kế hoạch phát triển của cây chè, đến năm 2010, Lâm Đồng sẽ nâng diện tích chè toàn tỉnh lên mức 26.000 – 28.000 ha, trong đó chè cao sản và chè chất lượng cao chiếm khoảng 48% -50%, năng suất bình quân 90 tạ/ha và sản lượng 211.500 – 252.000 tấn chè búp tươi/ năm. Một số dự án trồng mới chè chất lượng cao được triển khai ở Đà Lạt, Di Linh, Bảo Lộc và Bảo Lâm với quy mô 4.000 – 5.000 ha, đồng thời chuyển đổi khoảng 6.500 ha chè hạt sang chè cành. Hiệp hội Chè Việt Nam và cả các nước bạn khi đến Bảo Lộc cũng ghi nhận Bảo Lộc là “thủ đô chè” của Việt Nam bởi đây là “cái rốn” chè của Lâm Đồng. Nhiều danh trà lớn tồn tại hàng mấy chục năm như: Cầu Đất, Minh Rồng, Đỗ Hữu, Quốc Thái, Thiên Hương, gần đây là Trâm Anh, Tâm Châu, Haji, Fushen,… với các sản phẩm chè được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng.

CÂY CÀ PHÊ

Lâm Đồng có trên 200.000ha đất bazan phân bổ ở Bảo Lộc, Di Linh và một phần ở Đức Trọng, Lâm Hà, Đà Lạt phù hợp với cây công nghiệp dài ngày, nhất là cây cà phê. Do đó, đối với cây công nghiệp dài ngày của Lâm Đồng, đứng đầu bảng về diện tích phải nói tới cây cà phê, bởi cây công nghiệp cà phê có ưu thế về giá cả, sản xuất cà phê đem lại hiệu quả kinh tế cao, từ đó hình thành các vùng sản xuất lớn cây cà phê trong những năm qua là tất yếu.

Ở Lâm Đồng có thể trồng được cả 3 chủng loại cà phê: Arabica, Robusta và Charri với chất lượng tốt, đặc biệt là chủng loại cà phê Arabica ở Đà Lạt được người tiêu dùng ưa chuộng.

Tính đến năm 2005, tổng diện tích cà phê của Lâm Đồng là 117.400 ha/ tổng diện tích cây dài ngày của tỉnh 169.486 ha, trong đó hầu hết là chủng loại Robusta, diện tích cà phê kinh doanh hơn 114.152 ha. Với năng suất 18,5 tạ/ha, sản lượng cà phê nhân toàn tỉnh đạt 211.497 tấn. Hầu như cây cà phê có mặt ở 11/12 huyện, thị, thành trong tỉnh – trừ Cát Tiên hiện nay không còn cây cà phê. Vùng chuyên canh cây cà phê là các huyện Bảo Lâm (25.804ha), Di Linh (36.072ha) và Lâm Hà 32.061ha.

Hiện nay có khoảng gần 10 doanh nghiệp trong nước và liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu mua khoảng 20% cà phê nhân, đánh bóng để xuất khẩu. Các cơ sở, hộ gia đình chế biến thành các sản phẩm đồ uống tiêu thụ khoảng 10% cà phê nhân, 70% cà phê nhân còn lại chủ yếu bán thô ra ngoài tỉnh.

Trước năm 1975, Đà Lạt có 5 cơ sở rang cà phê nổi tiếng là Lễ Ký, Cao Nguyên, Tùng, Đà Lạt và Sao, phục vụ cho nội tiêu. Hiện nay, các thương hiệu Lễ Ký, Vĩnh Ích, Boss,… tuy chưa được quảng bá mạnh như cà phê Trung Nguyên nhưng cũng được nhân dân địa phương và du khách ưa chọn.

CÂY DÂU TẰM

Từ những năm 1954-1956, cây dâu đã được trồng và sản xuất thử ở Blao và Djiring với diện tích 10ha. Đến năm 1962, một trung tâm giống dâu được thành lập ở Bảo Lộc đã sản xuất khoảng 300.000 hộp trứng tằm và năm 1963 sản xuất được khoảng 1 triệu hộp trứng. Đồng thời, trung tâm này còn sản xuất 2 triệu hom dâu giống để cung cấp cho các tỉnh Quảng Ngãi, An Giang, Đắc Lắc. Ngoài trung tâm này, ở Di Linh còn có trại tằm tơ Gia Lành.

Cho đến năm 1978, cây dâu ở Lâm Đồng vẫn chưa được phát triển và nghề trồng dâu nuôi tằm chưa thực sự là một nghề thu hút được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Chỉ từ năm 1979, khi những người dân từ các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Hà Đông,… đến Lâm Đồng xây dựng vùng kinh tế mới đã khơi dậy nghề trồng dâu nuôi tằm ở đây. Diện tích trồng dâu tăng rất nhanh và phân bố chủ yếu tại Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương và vùng kinh tế mới Hà Nội. Trong những năm 1989-1993, trồng dâu nuôi tằm đã trở thành phong trào trong nông dân và đời sống của những người làm nghề này được cải thiện rõ rệt.

Thời kỳ thịnh vượng nhất của nghề dâu tằm Lâm Đồng là năm 1994, với diện tích dâu là 17.500ha, gấp hàng chục lần so với năm 1975 và chiếm tới 50% diện tích dâu của toàn quốc.

Cũng chính vào những năm này, Bảo Lộc được mệnh danh là “thủ đô dâu tằm” của cả nước với các nhà máy ươm tơ, dệt lụa hiện đại.

Tuy nhiên, sự phát triển thuận lợi đó nhanh chóng bị chấm dứt ngay từ năm 1995-1996 bởi ảnh hưởng của sự giảm mạnh giá tơ trên thế giới và những lý do chủ quan khác của Tổng công ty dâu tằm tơ.

Bắt đầu từ năm 1999, ngành dâu tằm tơ mới có dấu hiệu khôi phục dần. Đến cuối năm 2000, diện tích trồng dâu trong tỉnh đã tăng lên 3.644ha.

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Lâm Đồng_Đà Lạt

Canh bóng thả

Canh bóng là một món ăn của người Hà Nội xưa, thường hiện diện trong các mâm cỗ những dịp lễ Tết, hay khi nhà có việc quan trọng. Ngày nay, món canh bóng dần ít được biết đến, không những chỉ vì sự cầu kỳ khi chế biến mà còn vì người thưởng thức cũng phải biết cách dùng, biết cảm nhận mới thấy hết vị ngon ngọt trong từng miếng bóng.

Canh bóng thả

Canh bóng thả

Món ăn này được gọi là canh bóng vì thành phần quan trọng nhất của nó là bóng làm từ bì heo (da lợn), nướng lên cho nở phồng, thả trên bát canh trông giống như những chiếc bong bóng.

Đây là một món chế biến tỉ mỉ cầu kì, với nhiều công đoạn. Bì heo cạo chín (cạo bằng nước nóng), dùng dao lạng bỏ hết lớp mỡ còn sót lại. Càng lạng sạch bao nhiêu thì bì càng trong bấy nhiêu. Để bì được trắng và không có mùi hôi, phải rửa với nước gừng có pha chút giấm. Phơi bì ngoài nắng cho thật khô rồi mới nướng để bì nổi bóng phồng lên. Các khâu trên càng làm kĩ bao nhiêu thì khi nướng, bóng bì càng nở phồng và trắng bấy nhiêu.

Canh bóng nấu thả thường kết hợp với các loại rau như cà rốt, xu hào, nấm… Để canh ngọt ngon hơn, có thể thêm giò sống, sườn heo, hay tôm khô vào. Canh nấu theo cách phổ biến nhất là cà rốt, xu hào, nấm thái sợi thả vào nồi nước dùng được ninh từ xương heo hay xương gà. Canh chỉ cần sôi lên là được, nhưng vẫn phải để nồi trên bếp giữ nóng nước. Bóng cắt miếng cỡ bao diêm, tẩm ướp chút gia vị: gừng, hành, tiêu, nước mắm cho thấm. Phi thơm hành với mỡ heo, cho bóng vào xào, vặn nhỏ lửa để bóng ngấm dầu, mới mềm mượt và dai. Khi ăn múc canh ra tô, cho bóng bì lên trên, rưới thêm nước vào.

Trong mâm cỗ Tết của người Hà Nội xưa, món canh bóng thả là một trong 4 món không thể thiếu (gồm có: bóng, vây, măng, miến). Có thưởng thức canh bóng một lần, mới thấy người Hà Nội xưa quả rất cầu kì trong nghệ thuật ẩm thực.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Bánh trôi Tàu khi gió đông về

Bánh trôi Tàu khi gió đông về

Bánh trôi Tàu khi gió đông về

Hiếm có món nào gợi nhớ tới mùa đông Hà Nội nhiều như món này, bởi chỉ mùa đông mới có, và thưởng thức giữa cơn gió lạnh mới thấy hết vị ngon của nó.

Gió mùa đông bắc kéo về, giữa đêm lạnh cóng, mà được cầm trong tay bát chè nóng, húp ít nước đường sánh thơm nồng mùi gừng thì không bao giờ quên được. Cứ đông về, là các hàng chè thêm món bánh trôi tàu hoặc chè đỗ đen, đỗ xanh hoặc chí mà phù nóng. Nhân bánh trôi thường có hai loại, đỗ xanh và vừng đen.

Thường mỗi bát, có một viên bánh nhân đậu xanh, một viên nhân vừng đen, thêm ít nước cốt dừa và lạc nữa. Đẳng cấp khác nhau ở các hàng thường ở vỏ bánh trôi. Làm sao để viên bánh ngâm trong nồi nước đường nóng vậy mà không bị nát, ăn phải dẻo, vỏ bánh hơi dai dai và giòn nhẹ mới là tài.

Hàng bánh trôi tàu, lục tào xá và chí mà phù của bác Bằng ‘ Hói’ ở phố Hàng Giày rất nổi tiếng. Bác có kiểu phục vụ khách hàng rất khó quên khi chỉ thẳng vào mặt khách hét rất to “một chí, một trôi” . Lập tức có ngay.

Một hàng khác cũng rất ngon nhưng chẳng biển hiệu, gần bách hóa chợ Thành Công, giờ bách hóa sửa, chuyển sang ngồi cạnh hàng Hồng Minh bán bỉm, sữa, quần áo trẻ em rất nổi tiếng gần đó. Bà chủ hàng rõ đanh đá, có câu cửa miệng là “Chủ hàng hơi xấu thôi nhưng chè thì hơi đỉnh đấy”. Quả thật là đỉnh, món chè đỗ đỏ nóng và bánh trôi tàu ngon tuyệt.

Đỗ đỏ, đỗ đen ninh dừ, cho đường nhàn nhạt, không ngọt khé. Nếu muốn ăn cả hai món tủ ở đây thì phải ăn chè đỗ đỏ trước rồi mới đến bánh trôi tàu. Nếu trót nhỡ mồm ăn bánh trôi tàu rồi, mà đòi ăn thêm chè đỗ đỏ, bá chủ hàng nhất định không bán vì ” nó nhạt nhẽo đi, mất ngon. Để lần khác ăn” . Quá quắt thế là cùng.

Nếu là khách phương xa đến Hà Nội, tối tối, dạo phố, ăn thử bát chè nóng hoặc bánh trôi Tàu sẽ nhớ mãi về một đêm đông nhưng không hề giá lạnh.

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Bánh trôi Bằng Giang

Bà tôi vốn gốc Hoa, vì mưu sinh phải trôi dạt về vùng Bằng Giang (Cao Bằng) kiếm sống. Cả nhà tôi ngày ấy sống nhờ công khuân vác của ông và nồi bánh trôi của bà. Mẹ và sáu dì, cậu lần lượt trưởng thành. Và không ai bảo ai, cả ba cô con gái đều theo nghề của bà: nấu và bán bánh trôi. Hai dì theo chồng, đi bán chợ phương xa, còn mẹ tôi vẫn ngồi góc chợ Bằng Giang, chiều chiều mở gánh.

Bánh trôi Bằng Giang

Bánh trôi Bằng Giang

Bánh trôi của mẹ được bắt bằng nếp cái, mẹ tự ngâm nước, giã tại nhà. Ngày nào cũng vậy, mẹ ra giàn hái gấc, rồi nạo, lược, xay, trộn lẫn vào phân nửa bột nếp. Chuẩn bị cho một gánh hàng chiều, mẹ phải ngồi tỉ mẩn se từng viên nếp: cái trắng, cái cam, cái nửa cam nửa trắng, một mâm rồi hai mâm…

Để thắng nước đường gừng, mẹ dùng toàn mật mía. Nồi nước đường lúc nào cũng sôi lửa riu riu. Mỗi khi có khách, mẹ cho 10 viên bánh vào nồi nước gừng có chút dầu để trụng bánh. Đó là phút giây “huyền diệu” nhất của công đoạn nấu bánh trôi, những chiếc bánh màu nâu đỏ chuyển sang đỏ cam tươi – màu gấc nguyên sơ của núi rừng Việt Bắc. Mẹ khéo léo cho bánh ra bát, lại chan đường, nước cốt dừa rồi rắc một ít vừng, hoặc lạc rang giã nhuyễn…

Tôi nhớ hoài những ngày nắng, đám bạn trường tiểu học Cao Bằng của tôi cứ chực chờ quanh gánh hàng của mẹ. Bưng bát bánh trôi, nhiều bạn hít hà vì vị cay của gừng… mồ hôi nhễ nhại vậy mà ai cũng thật vui! Khi trời đổ mưa, những cô chú công nhân quanh khu chợ cũng nhờ vị nồng ấm của gừng mà bớt lạnh giá. Đêm hè, rồi đến đêm đông… Gánh bánh trôi của mẹ tôi tại chợ Bằng Giang chẳng mấy chốc mà đã 26 năm tuổi. Bốn chị em tôi lớn lên, được học hành, thành người cũng từ gánh hàng ấy… Nhiều lúc, ở thủ đô phồn hoa, rẽ vào một con ngõ nhỏ, bất chợt thấy quầy bánh trôi… tôi lại trào dâng ký ức hàng bánh của mẹ. Tôi biết, dù có bệnh tật, mệt mỏi thế nào, hay bận bịu giỗ chạp ở xa, mẹ cũng quầy quả quay về xóm chợ Bằng Giang mở hàng… Không phải mẹ sợ mất khách mà cứ sợ món bánh của bà bị thất truyền…

Hàng bánh trôi hôm nay nhiều không kể xiết, ngay tại chợ Bằng Giang, mẹ cũng đã có đồng nghiệp cạnh tranh… Nhưng không ai kiên nhẫn, tự tay nạo gấc, pha màu, giã vừng, lột vỏ, tỉ mẩn và chỉn chu như mẹ. Và cũng nhờ đó, hàng bánh trôi của mẹ, của bà tôi đã thành “một phần lịch sử” của chợ Bằng Giang…

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Bánh phu thê gọi mùa cưới

Bánh phu thê gọi mùa cưới

Bánh phu thê gọi mùa cưới

Mùa cưới đến cũng là lúc dân làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) nhộn nhịp tiếng chày giã gạo để làm bánh phu thê, một loại bánh truyền thống không thể thiếu trong cỗ cưới của người Việt.

Bánh phu thê – Ảnh: Tiến Thành

Ai đã đến Bắc Ninh hẳn không quên thưởng thức món bánh phu thê thơm dẻo, màu vàng ươm được bọc trong tàu lá chuối, lá dong xanh mướt. Chiếc bánh nhỏ xíu, xinh xinh nhưng gói ghém bao tinh hoa văn hóa ẩm thực của miền Kinh Bắc.

Này đây là vị giòn của đu đủ chín trộn lẫn với vị dẻo của bột gạo nếp cái hoa vàng, vị béo của cơm dừa xen lẫn với vị ngậy của đậu đỗ, vị thơm bùi của hạt sen cộng hưởng với vị thanh khiết của hương bưởi, cùng vị ngọt thanh của đường cát trắng…

Cả nhân bánh, vỏ bánh lại được phủ lên một màu vàng ươm, mát mịn, chiết xuất từ quả dành dành. Bao nhiêu hương vị ấy tượng trưng cho bấy nhiêu tình nghĩa phu thê. Và rồi, thẩm thấu màu sắc chiếc bánh, ta nhận ra một triết lý ngũ hành tinh tế: màu trắng của bột lọc và cơm dừa, màu vàng của dành dành dùng làm màu cho vỏ bánh và nhân đỗ xanh xay nhuyễn, màu đen của hạt vừng, màu xanh của lá và màu đỏ của lạt buộc.

Thế mới biết, nghĩa phu thê – nghĩa vợ chồng mặn nồng và triết lý đến thế nào!

Một truyền thuyết kể lại rằng khi vua Lý Anh Tông đi đánh trận, người vợ ở nhà thương chồng vất vả đã tự tay vào bếp làm bánh gửi ra cho chồng. Vua ăn thấy ngon, nghĩ đến tình vợ chồng đã đặt tên bánh là bánh phu thê (sau này còn có tên gọi là bánh xu xuê). Một câu chuyện thật giản dị về chiếc bánh nhưng đã làm ấm lòng bao cặp đôi tri kỷ.

Nhân bánh, vỏ bánh được phủ một màu vàng ươm – Ảnh: Tiến Thành

Ngày nay, trong mâm cỗ cưới, cỗ tết Việt Nam đã có trăm món bánh ngon để bày biện, cúng bái trước tổ tiên. Nhưng có lẽ bánh phu thê ở Đình Bảng, Bắc Ninh vẫn là thứ bánh được ưa chuộng hơn cả. Bánh ngon bởi không chỉ bởi nghệ thuật làm bánh kỳ công, điêu luyện mà còn vì tự cặp bánh xinh xinh đã nói lên tình nghĩa thủy chung son sắt và niềm hạnh phúc của lứa đôi

Đăng tin: Văn Lâm

Bánh hồng dẻo thơm

Bánh hồng dẻo thơm

Bánh hồng dẻo thơm

Bánh hồng là loại bánh đặc sản của người Bình Định, thường xuất hiện trong lễ cưới hỏi. Bánh hồng sơ khai có màu trắng đục của nếp và đường, khi bánh được chọn làm vật phẩm trong đám cưới thì được nhuộm hồng cho đẹp.

Cách làm bánh hồng đơn giản, gần giống như cách làm bánh dẻo của người Hà Nội. Nguyên liệu làm bánh hồng cũng là nếp đường (nếu muốn bánh có màu hồng, xanh thì thêm màu thực phẩm như gấc, lá dứa). Nếp làm bánh phải chọn loại ngon, nếp mới càng tốt, vì độ dẻo sẽ cao. Nếp được vò kỹ, ngâm cách đêm, để ngấm đủ nước, nghiền thành bột nước, rồi ép ráo, nhớ đừng khô quá. Sau đó nhồi bột với đường rồi cán bột thật mịn, cắt bột thành từng khối nhỏ cho vào nồi nước đang sôi luộc chín. Khâu luộc bột rất quan trọng, nếu để bột chín quá bánh sẽ nhão, nếu vớt bột sớm thì bánh sẽ khô và sống.

Khi bột luộc gần chín (nổi lên mặt nước), chuẩn bị một nồi nước đường, nấu sôi. Vớt bột, thả vào nồi nước đường đang sôi. Dùng đũa đảo đều tay để nước đường thấm vào bột, đến khi nước đường sền sệt thì vặn nhỏ lửa. Đun đến khi miếng bột se lại, chạm vào bột không dính tay là được.

Dùng khay vuông rắc một lớp bột nếp khô trên mặt khay, trút bột vào khay, dàn đều bột khắp mặt khay. Thường độ dày của bánh khoảng từ 2- 3 cm là vừa, tiếp tục rắc lên trên một lớp bột nếp, ép bánh cho phẳng. Đợi bánh nguội, cắt thành từng miếng nhỏ cho vào túi hoặc lá chuối, dùng giấy báo gói lại bảo quản.

Bánh hồng dẻo lại dai, thơm mùi nếp, thấm vị ngọt của đường… Nhà có khách, đặc biệt vào những ngày miền Trung mưa dầm, mời khách thưởng thức dĩa bánh hồng, nhâm nhi ly trà nóng, ai cũng thích thú nhận ra vẻ thanh tao rất đặc trưng của bánh hồng.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Bánh chiên dân dã

Món bánh chiên giòn cuốn với rau sống ăn cùng nước mắm chua ngọt rất phù hợp với tiết trời mát mẻ. Thế nhưng, cùng là bánh chiên, mỗi vùng miền lại có đặc sản riêng.

Ở Hà Nội có món bánh tôm, nguyên liệu là bột trộn với khoai lang xắt sợi chiên giòn, ăn với rau sống, hiện ở TP.HCM cũng có vài nơi bày bán. Món này ăn ngon, làm dễ. Tôm làm sạch, ướp gia vị. Trộn bột gạo với nước cho hơi sệt (nếu muốn bánh giòn nhưng mềm mịn thì pha thêm chút bột năng và bột mì). Thả khoai lang xắt sợi vào thố bột. Dùng muỗng to múc từng muỗng bột đã trộn khoai gắn hai con tôm, cho vào chảo ngập dầu chiên giòn. Người Hà thành thích ăn bánh tôm với nước mắm pha giấm đường hơi chua và trộn đu đủ xanh (đu đủ cắt miếng nhỏ bằng nửa lóng tay, ngâm muối cho bớt nhựa, rồi ngâm giấm).Người Huế có món bánh khoái. Chỉ cần dùng bột gạo pha với nước, đường thắng và lòng đỏ trứng gà là có vỏ bánh. Nhân bánh có tôm, thịt xào với nấm hương. Bánh khoái thường to cỡ bàn tay người lớn. Khi chiên, cho bột vào khuôn, bột chín, cho nhân vào, thêm chút giá rồi tráng lòng đỏ trứng lên mặt bánh. Món bánh này có cách làm đơn giản, nhưng nước lèo ăn cùng rất cầu kỳ, gồm các nguyên liệu: tương, mè, gan heo, đậu phộng, bột báng nấu sệt (hiện nhiều hàng quán ở TP.HCM có bán bánh khoái nhưng không có nước lèo). Rau ăn kèm bánh khoái gồm rau thơm, khế, chuối chát và trái vả (chỉ ở Huế mới có trái vả)…

Ảnh: Quốc Anh

Người miền Nam làm món bánh xèo là bột gạo trộn bột nghệ, nước cốt dừa nên khi chiên bánh chỉ cần dùng miếng thịt mỡ tráng qua chảo rồi đổ bột vào, nghe “xèo” một cái. Khi bánh chín, cho tôm đã làm sạch bỏ vào, nhà nào sang thì cho thêm vài lát thịt ba chỉ. Nước chấm là nước dừa tươi nấu lên với đường và nước mắm, pha thêm chút đồ chua (củ cải trắng và cà rốt cắt nhuyễn) ăn với rau thơm, xà lách. Món này ngày nay có thể làm nhanh hơn nhờ đã có bột bánh xèo pha sẵn bán tại các siêu thị.

Món dân dã khác mà người miền Nam rất thích ăn là bánh khọt. Bánh khọt làm trong khuôn đất nung. Có nhiều loại khuôn, thường từ 7 – 40 lỗ tròn nhỏ để đổ bột. Bột bánh khọt cũng giống bánh xèo, tức là làm từ bột gạo pha với bột nghệ, thêm trứng gà cho xốp và thơm. Khi đổ bánh, cho bột vào khuôn, thêm tôm đã lột vỏ vào, cuối cùng tráng thêm một lớp mỡ hành. Bánh khọt có màu vàng của nghệ, màu đỏ của tôm, màu xanh của hành lá (có người nấu nước cốt dừa chế thêm vào bánh lúc gần chín, tạo thành một khoảng trắng đẹp mắt). Món này ăn khá gọn, mỗi cái bánh cuộn với rau, chấm nước mắm, không cần chia nhỏ như bánh xèo, bánh khoái.

Trong các loại bánh nêu trên, đến nay bánh xèo có nhiều biến tấu nhất. Nào là bánh xèo nấm linh chi, bánh xèo nấm mối, bánh xèo rau mầm, bánh xèo củ hũ dừa v.v… Cách làm bột bánh vẫn như truyền thống, chỉ thay đổi nhân theo sở thích và khẩu vị.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Ăn cốm dẹp nghe hương nếp ngày mùa

Nói về cốm, dân xa xứ Hà Nội xưa nay vẫn nhắc nhớ về cốm làng Vòng, còn người Nam bộ thì tự hào về món cốm dẹp của người dân Khmer miệt duyên hải Trà Vinh, Sóc Trăng.

Ăn cốm dẹp nghe hương nếp ngày mùa

Ăn cốm dẹp nghe hương nếp ngày mùa

Mỗi độ thu về, khi những hạt lúa nếp đầu mùa vừa ngậm sữa căng hạt, người ta gặt về để làm cốm. Thóc nếp được sàng sảy cẩn thận rồi mang đi ngâm nước một đêm, sau đó phơi khô dưới nắng. Sau khi phơi khô, nếp được rang chín và đem ra giã. Theo kinh nghiệm được người xưa truyền lại, mẻ cốm muốn cho dẻo và ngon thì bắt buộc phải rang trong những chiếc om, hay nồi đất làm thủ công. Rang lâu quá hạt nếp sẽ cứng, nhưng nếu nhanh quá thì hạt nếp còn sống khi giã cốm bị nhão. Lúc giã cốm, hai người một nam một nữ đứng đối diện bên cối, mỗi người một tay cầm chày một tay cầm cây gạt vừa giã vừa gạt cho đến khi hạt nếp dính chày rớt xuống cối. Nếp sau khi giã cho dẹp được đổ ra nia sàng sảy cho hết trấu rồi cho vào bao kín.

Nghề giã cốm dẹp từ xưa đã là một nghề truyền thống của nhiều làng làm nghề nông của người Khmer Tây Nam bộ. Cốm dẹp thường gắn liền với lễ hội Ooc-om-boc, tức là lễ cúng trăng vào rằm tháng 10 âm lịch hàng năm. Trong đêm hội, các bậc bô lão Khmer bốc cốm dẹp thành từng nắm lớn cho vào miệng trẻ con như một lời chúc phúc, cầu cho sự no đủ lâu bền. Đối với người Khmer, cốm dẹp đã trở thành vật linh, vừa là món ăn hấp dẫn đầu mùa, vừa là phẩm vật để dâng lên thần linh và trời đất. Ngày nay, dù đã qua nhiều biến động và đổi thay kinh tế, nhưng vẫn còn nhiều làng nghề cốm dẹp như Phú Tân ở Mỹ Tú, Sóc Trăng, Ba So ở Cầu Ngang hay thị trấn Duyên Hải, Trà Vinh… Cốm dẹp cùng với cơm dừa rám nạo nhuyễn, cho vào một ít đường cát hoặc đường thốt nốt, tưới một chút nước dừa tươi lên trộn đều để chừng một giờ cho cốm dẻo là ăn được. Khi ăn, bốc từng nhúm nhỏ cốm dẹp cho vào miệng để mùi thơm của nếp sữa, vị ngọt béo dần dần thấm sâu vào lưỡi mà trân trọng mùa màng.

Nguồn tin: Phụ nữ Online