Bánh dày, tương đỗ – món quà quê Hà thành

Bánh dày, tương đỗ - món quà quê Hà thành

Bánh dày, tương đỗ – món quà quê Hà thành

Hai đặc sản “bánh rán Chợ Mơ” và “cá rô Đầm Sét” đã thuộc về địa bàn Hà Nội từ lâu, nay thêm “bánh dày Quán Gánh” hội tụ, đủ bộ ba sản vật từng được người đời ca tụng.

Đất Sơn Nam Thượng xưa có câu:

Bánh dày Quán Gánh

Bánh rán Chợ Mơ

Cá rô Đầm Sét

Tiếc thay, bánh rán và cá rô nay không còn là thương hiệu đặc sản trên thị trường nữa, mà nổi lên và ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng chỉ còn bánh dày Quán Gánh.

Bánh dày Quán Gánh ngày càng được người tiều dùng ưa chuộng

Quán Gánh nằm cạnh quốc lộ 1 cách trung tâm Hà Nội về phía Nam chưa đầy 20km. Bên phải là đường tàu, dãy phố ở bên tay trái kéo dài gần 1.000m với những sạp hàng, quầy hàng chồng cao những tấm bánh vuông, những gói bánh tròn xanh mướt màu lá dong tươi với nút lạt buộc nhuộm điều quen thuộc mang đậm đà phong cách Việt. Quán Gánh đấy!

Người ta kể rằng: Cách đây đã lâu, có nhà nông dân làng Trung Thôn, huyện Thượng Phúc, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín) rất nghèo, vợ chồng kéo nhau ra ven đường thiên lý dựng quán tranh dưới gốc đa cổ thụ bán nước vối, nước chè tươi cho khách qua đường. Nhiều người gồng gánh nặng từ xa đến, tiết trời nóng bức đã thuê chồng bà chủ quán gánh hộ một chặng đường đi tiếp. Thấy việc làm ấy cũng kiếm ăn được, bà con trong làng vào lúc nông nhàn cũng rủ nhau ra đây chờ khách thuê gồng gánh. Do đó mà thành tên phố.

Quán Gánh bây giờ không còn người gánh thuê, chỉ có vài ba chiếc xe ôm, vẫn nổi tiếng ở món quà bánh dày. Sản phẩm này bắt đầu từ làng Thượng Đình cùng xã Nhị Khê. Dân làng sống chủ yếu bằng nghề nông với cây lúa và cây màu như đỗ đậu, cà, dưa, rau. Bản chất cần cù, thông minh nên bà con giỏi chế biến làm tương, muối dưa cà và làm bánh bán, thứ bánh dày đã được tiếp thị bằng bốn câu ca dao mê hoặc lòng người:

Dù ai chồng rẫy, vợ chê

Bánh dày Quán Gánh lại về với nhau

Ăn trước thì bảo người sau

Già ăn trẻ lại, gái mau đắt chồng!

Bánh dày là thứ bánh dân gian truyền thống cùng với bánh chưng có từ thời các vua Hùng, thường dùng vào dịp lễ tết và cưới xin. Bánh dày cũng là món quà người Hà Nội, ăn kẹp với giò lụa hoặc chả quế.

Còn bánh dày Quán Gánh có phong vị khác. Bánh có ba loại cùng một thứ vỏ là xôi đồ giã nhuyễn nhưng khác ở nhân trong ruột. Một thứ là bánh chay không có nhân làm bán buôn cho hàng quà trong phố. Hai thứ sau mới là đặc sản bán ở Quán Gánh. Thứ nhân ngọt làm bằng đỗ xanh nấu chín xào với đường cho có màu cánh kiến và thứ nhân mặn gồm đỗ xanh, thịt lợn ba chỉ, sợi dừa nạo trộn đều với hành, mỡ, hạt tiêu.

Bánh ngon chủ yếu ở khâu chọn lựa nguyên liệu. Gạo phải là nếp cái hoa vàng hay nếp quýt, hạt đều nhau, không bạc bụng, không lẫn tẻ; ngâm – vo – đãi kỹ vài ba lượt cho sạch cám, trấu, để ráo nước mới cho vào chõ đồ. Xôi chín phải đổ nhanh ra cối hoặc chiếu buồm cói trải lên nền gạch phẳng và lập tức giã hoặc xeo bằng chày gỗ cho đến độ dẻo quánh.

Công đoạn tiếp theo là vắt thành nắm nhỏ, dàn mỏng đều, cho nhân vào giữa, vê kín lại rồi bóp nhẹ tay cho chiếc bánh thành hình tròn dẹt mà không vỡ nhân.

Cuối cùng là xếp bánh 6 chiếc một, gói vuông bằng lá dong hoặc kẹp cả 6 chiếc liền nhau phong tròn bằng lá, đặt nhãn hiệu và buộc lạt nhuộm điều.

Bánh dày Quán Gánh đã trở thành món quà không thể thiếu với khách qua lại quốc lộ 1 nhiều năm qua. Nay, nó còn dùng trong cúng giỗ gia tiên, lên chùa ngày tuần rằm, lễ hội, Tết và trong tiệc cưới thay cho xôi, bánh chưng rất thuận tiện. Khách mua ở nội thành chỉ cần gọi theo số điện thoại nhà nào đó là có người đưa đến giao tận nhà. Một số quán ăn, khách sạn cũng đặt để khách kể cả khách nước ngoài thưởng thức món đặc sản này.

Càng được tiếng, người Thượng Đình càng bảo nhau phải làm ăn trung thực, giữ cho thương hiệu của mình có uy tín lâu dài, xứng đáng với “Bằng công nhận làng nghề” được trao tặng năm 2003. Bánh dày Quán Gánh là thứ quà, món ăn dân gian thanh tao, thi vị, bình dân, không cao sang nhưng hấp dẫn, góp phần làm phong phú kho tàng ẩm thực Hà thành.

Cũng ở làng quê Thượng Đình, xã Nhị Khê này còn có món quà quê là tương. Từ cây đỗ sản phẩm của đồng đất quê nhà, bà con chế ra loại tương ngon, đâu chỉ để dùng mà còn đem bán khắp chợ xa, chợ gần. Vẫn còn đó câu ca dao:

Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Dũi với anh thì về

Làng Dũi có ruộng tư bề

Có sông tắm mát có nghề làm tương

Dũi là tên nôm gọi chung xã Nhị Khê, còn Thượng Đình có tên riêng là Dũi Tương. Tên sản phẩm được ghép với tên làng đã nói lên làng có một thời nổi tiếng với thứ tương này. Tiếc rằng tới nay tương làng Dũi đã bị chìm đi so với hai thứ tương khác là tương Bần và tương Cự Đà. Có lẽ bởi người chân quê không biết tiếp thị chăng, hay cũng bởi nghề bánh dày phát triển và sinh lợi hơn làm tương?

Nói đến tương Bần thì ai cũng đã từng được dùng, ít ra cũng được nghe đến qua câu ngạn ngữ “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần”. Thứ tương đã trở thành thương hiệu quen thuộc trong nước và cả ở nước ngoài. Làng Bần nay đã thành thị trấn Bần Yên Nhân, thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Đi xuôi quốc lộ 5 về phía biển, cách Hà Nội 25km, ta gặp hai bên dãy phố những tầng giá cao xếp những bình nhựa, can nhựa to nhỏ mang nhãn hiệu tương Bần kéo dài gần cây số. Xe ngược, xe xuôi qua đây đều dừng lại mua món quà quê dùng trong bữa ăn. Rau muống luộc, đậu rán, dưa muối, cá rán, cá kho, riêu cá… mà thiếu tương thì kém đi hương vị đồng quê. Ăn cơm chay lại càng không thể không có tương làm nước chấm.

Tương, một món ăn dân dã của người Việt

Còn thứ tương Cự Đà là của xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, nay đã thuộc Hà Nội, cũng ngon ngang ngửa với tương Bần. Ở Hà Nội, có nhiều đại lý bán tương Cự Đà, nhãn hiệu thường có chữ “Cự” ở đầu.

Điều khác nhau giữa hai thứ tương này là ở khâu xay đỗ tương. Tương Bần chỉ xay vỡ, đỗ còn nguyên mảnh, còn tương Cự Đà là xay đỗ thành bột nên tương nhuyễn. Cả hai đều có vị đậm ngọt thơm ngon như nhau, khó phân biệt.

Ngoại thành Hà Nội (cũ) còn có tương làng Sủi cũng đã đi vào câu ca vùng Gia Lâm: “Cháo Dương, tương Sủi, đậu Vụi, cà Hàn”. Sủi là tên nôm làng Phú Thị, quê hương Thánh Quát.

Tôi có hai quê ngoại: quê mẹ ở làng Bần, quê vợ ở làng Khúc Thủy, xã Cự Khê. Mỗi lần về quê ngoại là anh em, bạn bè, hàng xóm đều nhờ: “Bác mua hộ nhà em chai tương nhé! Mua đúng ở nơi sản xuất và bác lại rõ nhà nào là gia truyền, chẳng còn sợ kém chất lượng. Ăn khác hẳn thứ tương mua ở đây, cũng dán mác tương Bần, tương Cự Đà cả!” Phải thồ hàng chục bình lủng củng vậy mà vui.

Quê nội gốc gác mười đời của tôi ở làng Chương Dương, huyện Thường Tín, nên lần nào về quê giỗ tổ, lúc ra tôi cũng không đi đường Pháp Vân – Cầu Giẽ mà theo quốc lộ 1 cũ để qua Quán Gánh mua vài chục bánh dày về cho vợ, con, cháu, chắt được thưởng thức món quà đặc sản quê nhà.

Cái điều bình thường mà trở thành giá trị. Bởi thói quen hay bởi tâm hồn ta đã gắn bó với những món mà ông cha ta sản sinh từ bao năm…

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Advertisements

Bánh dày khổng lồ mừng 1.000 năm Thăng Long

Vào ngày 3/3 tới (tức ngày 18 tháng Giêng) một chiếc bánh dày lớn kỷ lục sẽ được vận chuyển từ thị trấn Phú Minh, Phú Xuyên, Hà Nội đến chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, Gia Viễn, Ninh Bình chia cho khoảng 1 vạn người.

Ông Nguyễn Văn Bảo, Chủ tịch Chi hội Di sản văn hóa Phúc Chỉ, Hội Di sản Văn hóa Việt Nam – người có ý tưởng làm chiếc bánh dày đã có cuộc trò chuyện với phóng viên.

Phác họa chiếc bánh dày kỷ lục. (Ảnh: Vietnam+)

Thưa ông, xuất phát từ đâu ông lại có ý tưởng làm chiếc bánh dày khổng lồ?

Ông Nguyễn Văn Bảo: Làm chiếc bánh dày này ngoài việc chào đón 1.000 năm Thăng Long còn có ý nghĩa tôn vinh một làng nghề. Đó chính là nghề làm bánh dày Quán Gánh, Thường Tín, Hà Nội. Đây là một đặc sản của vùng văn hóa Thăng Long-Hà Nội.

Tôi chỉ là người đưa ra ý tưởng, được Ban Trụ trì chùa Bái Đính chấp nhận và Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển TST tài trợ kinh phí.

Nghe nói, chiếc bánh dày này đạt kỷ lục Guinness Việt Nam?

Ông Nguyễn Văn Bảo: Chiếc bánh có trọng lượng 2.010kg, đường kính 2,010m. Đó là những chỉ số biểu tượng 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Hình dáng bánh như một bông hoa sen, mặt trên của bánh có chạm hình rồng đời Lý.

Để làm được hình dáng chiếc bánh như vậy, nhà tài trợ đã phải huy động lực lượng các họa sĩ, nhà điêu khắc, cố vấn chuyên môn làm khuôn bánh trong vòng gần 4 tháng. Chiếc khuôn (âm bản) là một công trình điêu khắc tiêu tốn gần trăm triệu đồng. Chất liệu làm bánh là loại gạo nếp cái hoa vàng được chọn rất kỹ càng.

Căn cứ vào những chỉ số đạt được của chiếc bánh dày, Trung tâm Sách kỷ lục Guinness Việt Nam đã có thông báo chính thức xác lập kỷ lục “Bánh dày to nhất Việt Nam.”

Sau đó chiếc bánh dày sẽ được chia cho nhân dân tại chùa Bái Đính?

Ông Nguyễn Văn Bảo: Đêm 17 tháng Giêng (Canh Dần) chiếc bánh sẽ được các nghệ nhân “đổ khuôn”. Sáng ngày 18 tháng Giêng, nhằm đúng vào ngày diễn ra Lễ hội chùa Bái Đính (tức ngày 3/3/2010 dương lịch), chiếc bánh dày khổng lồ sẽ được vận chuyển trên một xe cẩu tự hành “mới xuất xưởng” được “hóa trang” như một con chim hạc cõng bánh từ thị trấn Phú Minh, huyện Phú Xuyên, Hà Nội về chùa Bái Đính.

Đến nơi, sau các nghi thức tế lễ dâng vật do đội tế nữ gồm 50 người của Hội Di sản Văn hóa Việt Nam thực hiện, chiếc bánh được dâng cúng tại tiền sảnh tòa Tam thế Bái Đính. Sau đó, bánh sẽ được “tán lộc” tại chỗ cho khách hành hương và gửi về các địa chỉ có đăng ký xin lộc.

Theo dự đoán của ông thì bao nhiêu người sẽ được nhận “lộc” bánh?

Ông Nguyễn Văn Bảo: Tôi thử làm một bài toán nhé. Chiếc bánh dày 2 tấn, ngoài chia cho các trung tâm từ thiện đã đăng ký trước, ước tính chỉ hết khoảng 5 tạ. Còn 1,5 tấn bánh nữa sẽ được “tán lộc” cho nhân dân. Nếu chia cho mỗi người 1,5 lạng thì số người nhận được bánh phải là 10.000.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Ăn cá giò trên vịnh Lan Hạ

Trên vịnh Lan Hạ (Hải Phòng), cách bến đò Việt Hải chỉ khoảng 20 phút tàu máy, có rất nhiều bè nuôi hải sản nằm san sát nhau trong một đoạn vụng. Trong đó, đặc biệt nhất có lẽ là bè Hải Quân (*) với toàn các “anh lính”.

Làm cá trên bè - Ảnh: Thủy Trần

Làm cá trên bè – Ảnh: Thủy Trần

Đây là một địa điểm dân câu ưa thích và dân đi bụi cũng hay ghé chơi. Bạn có thể buông cần tự câu cá làm mồi nhậu, hoặc sau khi vẫy vùng thỏa thích trong làn nước biển, lên bè là có ngay các món hải sản tươi ngon để thưởng thức cùng bạn bè. Đáng nói, các chi phí dịch vụ được tính khá hợp lý, thời gian tổ chức chuyến đi chỉ cần hai ngày, một đêm.

Buổi sinh hoạt “ offline ” của chúng tôi với các bạn phượt Hải Phòng diễn ra trên bè Hải Quân và tôi được giao “ đi chợ ”. Nói vậy nhưng trước khi lao mình xuống làn nước trong xanh bơi vào hòn đảo xinh xinh có bãi cát trắng tinh, các bạn có kinh nghiệm đã kịp dặn các anh lính hải quân về bữa trưa với món cá giò đặc biệt.

Trời nắng đẹp, tôi đang rón rén đi giữa các lồng cá nuôi quanh bè thì một anh lính trẻ gọi vào cân cá. Con cá giò được vớt lên khỏi lồng, quẫy đuôi dữ dội, miệng há như muốn đớp luôn cái ống kính máy ảnh tôi đang chĩa vào nó. “8kg”. “Và sẵn sàng nuốt trôi chiếc iPhone đấy ”, một anh lính khác “cảnh cáo”, vì vốn dĩ cá giò là loài cá tham ăn.

Hai anh lính vừa làm cá vừa chuyện trò rôm rả, tay thoăn thoắt đánh vảy. Sau khi làm sạch, con cá giò được cắt riêng đầu, đuôi và vây rồi chặt miếng dành để nấu canh chua với dứa, cà chua và rau thơm. Phần thân cá nạc nhất thì lọc ra để làm món gỏi cá vắt chanh. Thịt cá lát mỏng, không cần xếp lên đá lạnh như nhiều món gỏi khác, cũng không cần trụng qua nước muối vì bản thân nó quá tươi và sạch.

Việc chế biến khá đơn giản và nhanh chóng dưới bàn tay thạo nghề của mấy anh lính trẻ măng. Gỏi cá giò khi ăn cuốn với lá cải xanh chấm mù tạt rất giòn và ngọt. Phần dạ dày và lòng cá được làm sạch, xắt miếng xào xả ớt. Một phần thân cá khác để nguyên khối to bằng cái tô thì cho vào hấp tẩm gia vị gừng, tiêu và ớt đỏ. Phần da cá sau khi hấp rất mềm và béo ngọt.

Sau hai giờ bơi lội tung tẩy, cả nhóm trở về bè, giội nước tắm ào ào ngay gần lối đi giữa các lồng cá. Nhìn vào mâm cơm nóng hổi, các món ăn hấp dẫn đặt trên bàn đang chờ, đĩa lòng cá xào và bát canh chua bốc hơi nóng hổi, màu ớt đỏ tươi tắn trên lưng miếng cá hấp… thật không thể không ồ lên sung sướng.

Tôi đưa miếng gỏi cá cuốn cải vào miệng, ngọt lịm, hơi cay của mù tạt xộc nhẹ lên mũi, một cảm giác rất đặc biệt, thơm ngon và tươi mát. Ngoài kia biển mới xanh làm sao!

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Thưởng thức 5 đặc sản gỏi cá ngon nhất trong ẩm thực Việt

Món gỏi cá dân dã đã lâu nay đã trở thành món khoái khẩu của dân sành nhậu. Gỏi thường được hiểu là món ăn làm bằng cá sống ăn kèm với rau thơm. Thực ra chẳng phải đơn giản vậy, phải chọn đúng loài cá nào để làm gỏi ra gỏi, phải chọn thứ rau thơm nào ăn gỏi cho thích hợp, rồi thì cách làm cá, cách trộn gỏi, cách pha chế nước mắm, cách nấu nồi nước lèo.

Gỏi cá Mai – Ninh Thuận

Theo nhiều người sành ẩm thực thì nói đặc sản biển Ninh Thuận phải nhắc tới gỏi cá mai, một loại cá nhỏ trông hơi giống cá cơm, thịt trong veo và không có máu nên không tanh. Có hai loại gỏi cá mai: gỏi khô và gỏi ướt.

Cá Mai khi mua về còn tươi đánh vẩy, cắt bỏ đầu đuôi và phần bụng lườn, rút xương sống xong làm tái qua giấm và vắt thật ráo. Người thích ăn béo thì thêm vào ít thịt ba rọi xắt nhỏ nữa là đã có một dĩa gỏi cá như ý.Một thứ “phụ gia” quan trọng của món gỏi cá Mai là nước chấm. Ninh Thuận lại là xứ nước mắm nên nước chấm dùng trong gỏi cá mai càng cầu kỳ và kỹ thuật. Tỏi, ớt, me chín bỏ hột đâm nhuyễn với đường. Đậu phộng rang vàng giã thành bột mịn, thêm vài trái chuối sứ chín mùi, tất cả hoà với nước mắm nguyên chất thành một thứ nước chấm sền sệt ngọt ngọt, chua chua, thơm tho, mặn mà và đậm đà hương vị biển.

Gỏi cá mai ăn cùng các loại rau sống: xà lách, húng lủi, dấp cá, ngổ, ngò gai kèm với chuối chát, khế, dưa leo xắt mỏng. Khi ăn dùng bánh tráng mỏng gói ghém cá, rau gọn gàng vào thành cuốn, chấm nước chấm mà thưởng thức vị ngọt của cá tươi, vị béo của đậu phộng, vị đậm đà của nước chấm cùng vị tươi của các loại rau xanh.

Gỏi cá Nhệch – Ninh Bình

Huyện Kim Sơn (Ninh Bình) có món đặc sản là gỏi cá nhệch. Tuy một số nơi trong tỉnh cũng mở quán giới thiệu món ăn này nhưng gỏi cá nhệch ở Kim Sơn được coi là ngon nhất. Gỏi cá nhệch ăn rất ngon, thơm và bùi, có mùi vị rất đặc trưng, ăn một lần là nhớ mãi.

Nhệch không phải cá, không phải rắn cũng chẳng phải lươn. Nó có mình dài, bụng trắng và sống được cả ở trong môi trường nước mặn lẫn nước ngọt.

Thịt cá Nhệch tươi được cắt thành lát có màu hồng giống màu thịt cá quả (cá chuối) đem trộn với thính cho thơm thịt. Thính được làm bằng gạo nếp rang, giã nhỏ mới có mùi thơm và bùi. Lấy da cá rán giòn để cuộn với gỏi. Xương cá giã nhuyễn để nấu dấm (có người gọi là nấu chẻo). Món dấm được pha chế với gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu và sả băm nhỏ.

Khâu pha chế nước chấm cũng quan trọng. Nước chấm gỏi được làm từ nước mắm, gừng tươi, tỏi, ớt, mỳ chính, hạt tiêu. Có người chấm gỏi với mắm tôm cũng rất dậy mùi. Gỏi được ăn kèm với bánh đa vừng, cùng các loại lá như dấp cá, mùi tàu, sung, đinh lăng, mơ lông… Khi ăn, mỗi người tùy theo khẩu vị để cuốn gỏi.

Gỏi cá Trích – Phú Quốc

Cá trích có rất nhiều ở vùng biển Phú Quốc và ngư dân có thể khai thác quanh năm. Vì thế, việc lựa chọn những con cá mới đánh bắt được còn tươi để làm gỏi là không mấy khó khăn.

Cá trích từ biển mang về được cạo sạch vảy rồi rửa thật sạch, sau đó thái mỏng ra từng miếng một. Kế đến vắt lấy nước cốt chanh, ớt thái mỏng thành sợi, củ hành tây thái nhỏ rồi trộn đều lên cá trích đã thái sẵn.

Bánh tráng, rau sống, dừa khô là những thứ không thể thiếu trong món ăn dân dã này. Rau thì luôn có trong các cánh rừng nguyên sinh của đảo, dừa thì được cư dân trồng rất nhiều, còn bánh tráng thì phải là bánh tráng do chính người dân Phú Quốc tự làm lấy vì bánh tráng ở đây có hương vị riêng biệt so với những nơi khác, vừa dày vừa dẻo lại vừa to. Do vậy, khi cuốn với gỏi cá trích, bánh tráng không bị bể và ăn rất ngon miệng. Đây cũng là nét đặc trưng của nghề làm bánh tráng ở Phú Quốc.

Nước chấm gỏi cá trích cũng rất đặc biệt, nó được làm từ ớt, tỏi và đậu phộng rang. Tất cả những thứ này được đâm nhuyễn rồi trộn lại với nhau , pha thêm nước mắm chính hiệu Phú Quốc sẽ tạo ra một hương vị vừa cay nồng, thơm lừng và khó quên khi chấm với gỏi cá trích.

Nét đặc biệt của cư dân Phú Quốc là khi ăn gỏi cá trích phải uống chút rượu sim, bởi cá trích có rất nhiều đạm và còn tươi sống, khi ăn gỏi cá dùng chút ít chất men để tốt cho tiêu hóa, đồng thời tạo nên sự hưng phấn, êm ấm bên gia đình sau những ngày ra khơi. Quây quần bên mâm bàn còn là dịp để cho các ngư dân hàn huyên tâm sự, trao đổi kinh nghiệm với nhau về việc đánh bắt hải sản và bàn tính chuyện ra khơi sắp tới.

Gỏi cá nhái – Phú Yên

Cá nhái có nhiều ở vùng biển Phú Yên, có đặc điểm riêng với thân hình tròn to, dài như con chình biển, da trơn màu nâu đen, thịt trắng chắc, xương có màu xanh. Thịt cá nhái được xem là món đặc sản bởi nó thơm ngon, ít.

Thường một con cá nhái độ từ 1 – 2kg sẽ chế biến được cho 3 – 5 người ăn. Sau khi chọn cá đem về, phải giữ cá luôn luôn trong độ lạnh bằng cách ngâm đá lạnh. Con cá được cắt bỏ phần đầu và lòng rồi lọc bỏ da, xương, chọn phần thịt, thái nhỏ từng miếng vuông mỏng, ngâm vào trong nước muối có đá lạnh ướp. Sau khi thái xong cá, xả và vắt khô nước muối, ngâm với cá với nước chanh độ 15 phút, đợi thịt cá chuyển sang màu trắng hẳn rồi dùng tay vắt thật khô, bỏ vào tủ lạnh.

Gỏi cá nhái ăn kèm các loại rau thơm như tía tô, húng, ngò gai, ngò thơm và nhất định phải có đậu phụng rang, hành tây xắt nhỏ, xoài băm, khế, bánh tráng nướng cùng một chén mắm nhỉ, ớt tỏi chanh đường…

Gỏi cá nhái có nhiều cách ăn. Hoặc trộn chung cả phần thịt cá đã ướp với các loại gia vị rau hành đậu phụng vào một cái dĩa lớn rồi khi ăn gắp ra từng dĩa nhỏ ăn dần; hoặc cứ để riêng phần cá một bên, phần rau một bên, khi ăn có thể gắp mỗi thứ từng ít bỏ vào chén kèm với tí chanh, ít bánh tráng nướng bóp nhỏ, chan tí nước mắm với rau thơm, kèm trái ớt hiểm rồi ăn một cách ngon lành. Ngon nhất là ăn món này với lai rai tí rượu ngon.

Gỏi cá Mè – Bắc Giang

Cá mè quả là tanh thật, ấy vậy mà cá mè lại là loài cá được chọn để làm món gỏi ở rất nhiều làng quê miền bắc như Bắc Giang, Thái Nguyên… Chọn cá để làm gỏi, thường chọn con nặng chừng 4-5 kg. Không chọn con to quá mà nhỏ quá thì thịt cá sẽ nhão, không chắc.

Món gỏi cá mè chỉ dùng hai bên thăn cá. Hai thăn cá được nạng mỏng theo chiều vát cho to bản. Dùng 3-4 củ gừng già giã nhỏ cho vào một cái tô to cùng với thịt cá mè, cho thêm một ly rượu trắng 45-50 độ và ít tiêu vào trộn đều, đậy nắp lại khoảng chừng 30-40 phút. Cá đã được làm chín bằng gừng rượu, vớt ra để ráo nước, mặt miếng cá đã se se thì ướp thính, xếp cẩn thận các miếng cá thính ra đĩa đã lau thật khô.

Món gỏi cá Mè có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào món nước chấm. Nước chấm gỏi được làm từ thịt con cá chép đực nặng khoảng 0,5 kg, cắt khúc, ướp riềng, nghệ, cà chua và bột ngọt, tiêu, hành, đun nhỏ lửa. Khi cá chín vớt ra vứt bỏ hết xương, đánh tơi toàn bộ thịt cá rồi nghiền nhỏ ra lọc qua chiếc rổ thưa, sau đó đổ vào xong đun lại cho sôi, nhắc xuống cho thêm lạc rang (đậu phộng) giã nhỏ trộn thành một thứ nước sền sệt màu vàng tươi có mùi thơm béo ngậy.

Ăn gỏi cá mè không thể thiếu các loại rau thơm làm gia vị như: lá đinh lăng, lá sung, lá cây mưng (cây lộc vừng), lá diếp cá, lá ngò tàu, lá ổi, lá mơ… Có nơi còn thêm vài quả sung ăn cùng.

Khi ăn, dùng bánh đa nem xếp lên các loại rau thơm tùy thích, gắp cá đặt lên rau thơm cuốn lại, chấm nước chấm và thưởng thức. Miếng gỏi trộn lẫn với rau thơm, gia vị, quyện với nước chấm bùi béo ngậy. Nhai chầm chậm thịt gỏi ngấm vào chân răng ngọt dần, ngọt dần, nhấm thêm chút rượu đế tạo nên vị bùi, cay, nồng, béo ngậy cho món gỏi cá. /

10 đặc sản tiến vua nổi tiếng của người Việt

Để được đưa vào cung tiến vua, món ăn phải có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị tuyệt vời hiếm thấy. Có thể nói, những món đặc sản tiến vua này là “vua” của các loại đặc sản.

Nền ẩm thực phong phú của Việt Nam từ thời xa xưa đã sản sinh ra hàng trăm, hàng nghìn món ăn đặc sắc. Một phần nhỏ trong số những món ăn đó hưởng vị trí trang trọng đặc biệt khi được đưa vào cung đình để cung tiến các bậc vua chúa. Để được tuyển chọn, đó phải là những món ăn có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị tuyệt vời hiếm thấy. Có thể nói, những món đặc sản tiến vua này là “vua” của các loại đặc sản.

Dưới đây là một số đặc sản tiến vua nổi tiếng ở Việt Nam:

Là nơi phát tích của vương triều nhà Lý, Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) thường được gọi là đất vua. Đây cũng vùng đất của một đặc sản nổi tiếng, đã được đưa vào tận kinh đô Huế để tiến vua, đó là bánh phu thê.

Đúng như tên gọi của mình (phu thê nghĩa là vợ chồng), món bánh này không lẻ chiếc mà đi theo cặp. Phía sau những lớp là chuối, chiếc bánh hiện ra với lớp vỏ làm bằng bột nếp óng ánh màu vàng tươi. Nhân bánh là đỗ xanh giã nhuyễn, nhào đường, có thể cho thêm dừa. Hương vị của bánh ngọt ngào như duyện vợ chồng. Ảnh: Bếp gia đình.

Sâm cầm hồ Tây là món ăn nổi tiếng, đã đi vào câu ca dao “ Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây ” của đất Thăng Long.

Quan niệm dân gian cho rằng loài chim này di trú từ phương Bắc về phương Nam, chúng đào ăn nhân sâm trên đỉnh các núi cao ở Trung Quốc, Hàn Quốc nên được gọi là sâm cầm. Đó là lý do thịt Sâm cầm được cho là một món ăn đại bổ. Đây cũng là một món ăn khoái khẩu của vua Tự Đức.

Tương truyền, làng Nghi Tàm bên hồ Tây được lệnh mỗi năm phải tiến vua 40-50 con chim Sâm cầm, nếu thiếu sẽ bị phạt nặng.

Nếu Sâm cầm là niềm tự hào của hồ Tây thì cá Anh vũ là thương hiệu bất hủ của ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Với những thớ thịt trắng, quánh và đặc biệt là khối sụn môi giòn sần sật, cá anh vũ được người sành ẩm thực cho là ngon hơn bất kỳ loài cá nào của sông nước. Vì vậy, từ xa xưa, cá anh vũ đã được dùng làm thức tiến ăn tiến vua, được các bộ chính sử ghi lại.

Cũng giống như sâm cầm hồ Tây, ngày nay cá Anh vũ đã gần như biến mất tại nơi vùng nước gắn với danh tiếng của mình. Ảnh: Hanoifishing.

Sau mỗi bữa ăn đầy sơn hào hải vị, vua chúa ngày xưa tráng miệng bằng gì? Một trong những câu trả lời là chè long nhãn hạt sen phố Hiến (Hưng Yên). Nguyên liệu chính của món chè tiến vua này là những quả nhãn lồng phố Hiến, loại nhãn có hương vị thơm quý phái, cùi dầy, ăn giòn, ngọt hơn bất cứ các loại nhãn nào khác.

Bên cạnh nhãn lồng, đất Hưng Yên còn có một đặc sản tiến vua đặc sắc khác là gà Đông Tảo.

Là giống gà quý chỉ có ở huyện Khoái Châu, gà Đông Tảo còn được gọi là gà chân voi đôi chân to sần sùi như chân voi, thân hình chắc nịch. Giống gà này rất khó nuôi, đòi hỏi phải kỳ công chăm sóc và gà càng già càng quý, thịt ăn thường có mùi vị thơm ngon đặc trưng không lẫn với bất kỳ loại gà nào.

Gà Đông Tảo có thể được nấu thành nhiều món, nhưng độc đáo nhất là món “vảy rồng hầm thuốc bắc” làm từ đôi chân to quá khổ của chúng. Ảnh: 5 giây.

Tương truyền, vào thời Trần, từ phủ Thiên Trường đến ngoài thành Nam Định, nhiều vùng là quê hương, thái ấp của vua quan nhà Trần. Cảm kích trước tài năng và đức độ của các bậc trị nước, dân thành Nam đã trồng một sản vật quý để dâng vua, đó chính là chuối ngự.

Vẫn còn được trồng chọ đến ngày nay, chuối Ngự cho quả rất nhỏ, khi chín có màu vàng ướm như tơ tằm, mùi thơm ngát, vị ngọt thanh tao đầy quyến rũ… Ảnh: Yume.

Cốm làng Vòng, sản vật đặc trưng của đất Thăng Long đã nổi tiếng từ cách đây 1.000 năm, khi được đưa vào cung tiến vua các triều Lý.

Ngày nay, cứ mỗi mùa thu món ăn chơi làm từ lúa non này lại theo các gánh hàng rong ruổi khắp các phố phường Hà Nội. Cốm Vòng thường được mua về ăn với chuối chín hoặc nấu chè cốm. Đây cũng là nguyên liệu chính của bánh cốm Hàng Than, một món ăn cũng rất đậm chất Hà Nội.

Mắm tép Hà Yên (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) là một đặc sản quý và độc đáo ở vùng chiêm trũng xứ Thanh, thời xưa thường được dùng để tiến vua.

Để làm loại mắm này, các chức sắc địa phải cử người đến tận khe Gia Giã, làng Cổ Đam (vùng Bỉm Sơn bây giờ) để đánh riêng một loại tép quý, là tép riu nhỏ, có mầu trong xanh. Khi nấu nước mắm cũng phải chọn người nấu giỏi nhất vùng. Khi hoàn thành mắm có ánh vàng, sóng sánh như mật ong,

Trắng nõn và mềm giòn như giá đỗ, hương vị hài hòa, rau muống Linh Chiểu (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thời xưa rất được các bậc vua chúa ưa thích. Bởi vậy, giống rau này còn có tên gọi khác là rau muống tiến vua.

Để bảo đảm chất lượng, việc chăm sóc rau rất kỳ công và vất vả, đất trồng rau phải nằm sát sông, được hưởng mạch nước sủi trong vắt và phù sa sông Hồng bồi đắp. Do việc chăm sóc phức tạp, hiệu quả kinh tế không cao, ngày nay giống rau đặc sản này đang dần bị mai một.

Được làm từ nước dãi của những con chim yến, yến sào (tổ chim yến) là một đặc sản có hương vị rất hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng cao.

Từ thời xưa, yến sào đã được khai thác tại các đảo Yến ở ngoài khơi tỉnh Khánh Hòa để cung tiến các vua chúa.

Ngày nay, cơ hội thưởng thức sản vật này vẫn nằm ngoài khả năng của đa số người dân Việt Nam bởi giá thành của chúng rất cao, từ 50-60 triệu đồng/kg. Phần lớn yến sào khai thác được xuất khẩu để thu ngoại tệ.

Phở hai tô – Món ăn độc đáo của phố núi

Phở hai tô là món ăn độc đáo của phố núi Tây Nguyên. Không ít người nhầm tưởng, quán nấu ăn ngon quá nên khách phải ăn tới hai tô mới đã thèm. Nhưng thực tế không phải vậy.

V ào quán, gọi phở, chủ quán nhanh nhảu làm hai tô bưng ra đặt lên bàn cho khách. Trong hai tô, một tô là bánh phở, tô còn lại là nước phở. Hình thức tương tự như hủ tiếu khô Sa Đéc (Đồng Tháp). Bánh phở ở Tây Nguyên không giống như bánh phở Hà Nội, Sài Gòn mà gần giống như sợi hủ tiếu Sa Đéc, Mỹ Tho (Tiền Giang) nhưng dai hơn. Chủ quán bảo rằng, sợi phở này được làm với nguyên liệu là những hạt gạo mọc lên từ đất đỏ bazan. Sợi phở được trụng trong nước sôi vừa mềm thì vớt ra, trộn vào một ít dầu để sợi phở không quến vào nhau. Tô đựng cũng được trụng qua nước sôi để giữ nóng. Người ta xếp trên bánh phở một ít thịt heo bầm, tỏi phi, tiêu và rưới lên một ít tương đen, tương ớt. Nước phở được để trong một tô riêng có thịt bò tái, bò vò viên, gân, gàu… Đa số các quán phở ở Tây Nguyên nấu nước dùng bằng xương heo; chỉ một vài quán hầm xương bò. Người ăn phở Bắc hay phở Nam đều hài lòng với cách nêm nếm của phở Tây Nguyên. Ngoài thịt bò, khách có thể gọi phở gà.

Người Tây Nguyên cho rằng, thưởng thức món phở kiểu hai tô mới ngon. Thực khách chầm chậm ăn, không vội vã. Gắp một ít bánh phở, kèm theo chút giá, ngò gai, rau quế cho vào miệng nhai vài cái rồi húp một muỗng nước phở vào. Khi đó, mới thưởng thức được vị ngon của sợi phở, vị thơm của nước dùng… Các nguyên liệu hòa quyện vào nhau tạo nên hương vị đặc biệt. Người ta khuyên thực khách đừng vội đổ dồn tô nước phở vào tô bánh phở vì ăn như vậy không thưởng thức được vị ngon, làm mất đi sự tinh tế.

Tinh túy bánh rắn Đô Kỳ – Thái Bình

Bánh rắn ăn nóng, thưởng thức cùng nước mắm nguyên chất, thêm chút ớt tươi tê tê đầu lưỡi hẳn không ai có thể quên được.

Nằm ở phía tây bắc của “vựa lúa Thái Bình”, Hưng Hà không thiếu những món quà quê dân dã làm từ lúa, trong đó phải kể đến bánh đa Làng Me, bánh chưng phố Lẻ, và nhất là bánh rắn Đô Kỳ.

Không nổi tiếng khắp mọi miền như bánh giò, bánh tẻ, bánh khoai sọ… mà bạn có thể tìm thấy ở bất cứ hàng quà vặt nào của đất Hà Thành, bánh rắn Đô Kỳ khiêm nhường ở lại như một cách riêng để níu giữ những người con của quê hương, dù đi xa nơi đâu cũng nhớ tới.

Bánh rắn được làm bằng gạo tẻ hạt đều, ngâm nước mưa 4 – 5 tiếng cho mềm rồi đem xay mịn. Công đoạn tiếp theo là cho bột vào lọc khô và nhào nhuyễn đến khi bột không dính tay.

Nhân bánh cũng không cầu kỳ, thịt đủ mỡ và nạc rửa sạch, luộc qua và thái dài khoảng 3 cm, hành khô bóc lớp vỏ ngoài đập dập, cho vào chảo mỡ nóng già phi vàng. Trộn hành khô vàng rộm vào thịt đã thái sẵn, ướp chút gia vị, nước mắm vừa ăn, thêm chút dọc hành tươi cũng đủ dậy mùi, mê đắm lòng người.

Mùa nào thứ ấy, khi thì lá rong, khi thì lá chuối, rửa sạch từng tàu, để ráo, lau thật khô. Trải tấm lá xanh mát, đầy ắp thiên nhiên xanh sạch, nắm một nắm bột vừa đủ đặt dọc thân lá, cho nhân thịt hành vào giữa, nắn tròn tay, dọc theo sống lá. Nhìn đôi tay thoăn thoắt của người làm bánh chợ Đô Kỳ gập hai đầu lá mới thấy hết nghê thuật của người gói bánh. Bánh gói xong được giữ bằng những sợi rơm, hoặc dây chuối phơi khô tước nhỏ, quấn quanh thân.

Đặt những chiếc bánh gói đều tay xinh xắn vào cái mẹt tre, chờ nồi nước sôi sùng sục thả bánh vào, đun vừa lửa khoảng 3 – 4 tiếng để bánh rắn nhưng không cứng, mềm nhưng không nhũn. Vớt bánh ra rổ cho ráo nước rồi ủ nóng kịp cho buổi chợ sớm tinh sương.

Bánh rắn ăn nóng, vị bùi ngọt tinh tuý của gạo tẻ, béo ngậy của thịt lợn, mùi thơm của hành… thưởng thức cùng chút nước mắm nguyên chất, thêm chút ớt tươi tê tê đầu lưỡi hẳn không ai có thể quên được./

Chè lam Phủ Quảng (Thanh Hóa)

Đất chè lam là ở chùa Hương (Hà Nội). Nhiều nơi có chè lam ngọt ngọt, cay cay, dẻo dẻo. Nhưng chè lam Phủ Quảng xứ Thanh (Thanh Hóa) lại không thế…

Nơi nào làm chè lam cũng xắt thành miếng như hình miếng cau nhỏ hoặc để thành bánh như bánh dẻo. Chè lam vùng chùa Hương nổi tiếng có màu hơi nâu nâu. Nhưng chè lam Phủ Quảng lại để thành thanh như kẹo lạc, màu vàng ươm, giòn khi ở ngoài nhưng lại tan quện một cách khó tả khi ăn. Chỉ biết đưa miếng chè vào miệng, thấy đầu lưỡi hơi nóng nóng, ngọt ngọt, có vị thơm của gừng, rồi mọi thứ hòa quện với nhau mà tan chảy.

Nguyên liệu làm chè bao gồm: nếp thơm, lạc, đường và gừng. Nếp làm kẹo là loại nếp đầu: mười hạt mẩy đều cả mười. Người ta đem ngâm gạo vào nước cho mềm rồi mang đi xay ở cối đá (đất Phủ Quảng đến bây giờ vẫn còn rất nhiều cối đá). Bột xay để lắng bột dưới, nước trong ở trên rồi được mang đi “tắm” vải thô bằng cách để một tấm vải thô trên thúng tro rơm nếp cho đến khi bột ráo. Người ta bẻ bột thành miếng như miếng cau rồi đem phơi nắng cho giòn.Gạo nếp rang chín đến độ giòn, có mùi thơm dịu. Khi rang gạo nếp phải chú ý lửa, cách đảo tay để tất cả các hạt đều chín, thơm như nhau.

Lạc rang được giã đôi, giã ba. Gừng quê được đồ lên rồi sắt lát thật nhỏ, thật đều. Mật mía Kim Tân – Thạch Thành – Thanh Hóa là loại mật có vị ngọt, độ sánh, mùi thơm để cho vào chảo thắng đều cho đến khi thấy sôi lăn tăn. Lúc đó, người ta chấm đầu đũa vào chảo, thả giọt mật vào bát nước lạnh. Nếu giọt mật vón cục lại thì mật đã thắng đủ độ. Tất cả nguyên liệu được đổ đều, nhanh tay vào chảo mật. Người ta luyện chè thật nhanh, thật khéo để tạo sự gắn kết, dẻo dai của chè.

Tương truyền rằng trước đây Lê Lợi khởi nghĩa ở Thanh Hóa thì món chè lam Phủ Quảng là lương thực chủ yếu nhân dân nuôi nghĩa quân. Vùng núi Thạch Thành, Vĩnh Lộc là những vùng núi đá nổi tiếng nhất của cả nước. Đây cũng là vùng đất mà con cháu vua Lê, chúa Trịnh sống rất nhiều. Họ rất tự hào về món chè lam Phủ Quảng của xứ mình. Đó không chỉ là món quà quê thật ngon, đó còn là món ăn mang nặng tình nghĩa và ghi dấu ấn lịch sử./

Nếp cẩm – đậm đà vị lạ mà quen

Còn được gọi là nếp than, nếp nương, được trồng ở miền núi phía Bắc Việt Nam, nếp cẩm dễ nhận biết bởi hạt tròn, màu đỏ nâu. Không chỉ đẹp mắt với những món ăn được chế biến khéo léo, thứ “ngọc thực” này còn nổi danh ở cả châu Âu bởi đặc tính giàu chất xơ và dinh dưỡng.

Cùng với gạo nức muối mè, nếp cẩm là một lựa chọn hàng đầu cho những người muốn có một thực đơn ăn uống lành mạnh với cơm nếp cẩm. Ngoài ra, từ nếp cẩm, người ta có thể thổi xôi, lên men rượu nếp cẩm, hay trộn xôi nếp cẩm cùng sữa chua cũng mang lại những thú vị riêng.

Xôi nếp cẩm ngon nhất hay được kết hợp cùng đậu xanh, vừng, dừa. Nếp cẩm ngâm qua đêm, xóc muối và được đồ chín như mọi loại xôi khác. Đậu xanh chà hết vỏ, đồ chín, đánh nhuyễn với đường. Xôi còn nóng, người ta đóng khuôn, cứ một lớp xôi nếp, một lớp đậu xanh, trên cùng rắc thêm vừng và dừa nạo. Xôi nếp cẩm đậu xanh khiến người ta nhớ mãi bởi vị ngọt mát của đậu, đồng thời là cái thơm bùi của vừng dừa hòa quyện.

Cái rượu nếp cẩm cũng là một thứ “đặc sản” từ thứ gạo này. Xôi nếp cẩm đồ chín, rải thêm chút men, ủ kín, mấy ngày sau đã thấy rượu nếp thơm hương. Nếm chút ở đầu lưỡi thấy tê tê, cái men chỉ khiến người ta gật gù tán thưởng chứ chưa đến độ say. Đầu tháng 5 ta, các chị, các mẹ gồng gánh thúng cái rượu vào các ngõ ngách của Hà Nội. Người ta chọn cái rượu nếp cẩm bởi vị đậm đà mà màu cũng hấp dẫn. Sớm mùng 5 tháng 5, trẻ con, người lớn, nhâm nhi thìa cái rượu mong một Tết đoan ngọ may mắn.

Cũng bởi những sự tình cờ ngẫu nhiên, nếp cẩm còn được giới trẻ Hà Thành phát hiện ra trong một cái duyên với sữa chua đến kì lạ. Nếp cẩm nấu thành xôi, chè cho vào trộn đều cùng sữa chua mang lại hương vị độc đáo. Hạt nếp cẩm nấu không nhão nát, cũng không chai cứng mà deo dẻo, dai dai ăn mãi không chán. Sữa chua được đánh tan cùng với nước cốt dừa sóng sánh béo ngậy. Món ăn lạ có độ ngọt vừa phải mà hương thơm cũng dễ làm người ta say mê ngay lần đầu thưởng thức.

Với màu tím hồng đẹp mắt khi nấu chín, nếp cẩm cũng thường nằm trong lựa chọn của các bà nội trợ khi muốn tạo màu tự nhiên cho món ăn.

Giản dị, gần gũi với cuộc sống cùng những hương vị thơm ngon, nếp cẩm bao lâu nay góp phần vào bức tranh vốn đã phong phú sắc màu của ẩm thực Việt.

Món chè mùa đông – hương vị Hà Thành

Nhắc đến chè người ta thường nghĩ đến những cốc thủy tinh cỡ lớn, những viên đá đập vụn, và cảm giác mát lạnh xua tan cái nóng nực đang ám ảnh. Tuy nhiên, ở Hà Nội, mùa đông người ta vẫn rủ nhau đi ăn chè.

Những món chè này thường có đặc điểm chung, nấu với vị ngọt vừa phải, để có thể ăn nóng hoặc có chăng chỉ cần thêm một chút đá bào. Thứ nữa, các món chè của mùa đông thường có xu hướng nấu đặc. Nồi chè sóng sánh, đặc quánh, bốc hơi nghi ngút nhìn thôi đã thấy hấp dẫn.

Người ta hay tìm đến xôi chè vào lúc trời lạnh. Món ăn lạ mang phong cách ẩm thực Hà Thành. Xôi vò đậu xanh ăn cùng chè đường nấu đặc. Vừa mềm, vừa dẻo, lại có chút dai dai của hạt gạo nếp hương, thoang thoảng hương gừng, món ăn rất độc đáo trong tiết trời lạnh.

Chè đậu đen đặc, thú vị khi ăn chè nóng trong những chiếc bát sứ trắng.

Chè đậu đen đặc, thú vị khi ăn chè nóng trong những chiếc bát sứ trắng.

Chè đậu xanh sen Hàng Cân, thưởng thức cái thanh mát của đậu xanh và thơm giòn của trân châu.

Chè đậu xanh sen Hàng Cân, thưởng thức cái thanh mát của đậu xanh và thơm giòn của trân châu.

Một biến tấu với chè mùa đông, xôi chè cũng là nét thú vị của ẩm thực Hà Nội.

Một biến tấu với chè mùa đông, xôi chè cũng là nét thú vị của ẩm thực Hà Nội.

Bên cạnh xôi vò chè đường, chè đậu đen đặc hay đậu xanh sen cũng “hút khách” trong những ngày trở rét. Đậu đen được ninh nhừ một cách khéo léo, để hạt đậu vẫn còn nguyên mà bên trong thì bở tơi. Trước khi nhắc xuống bếp, người ta còn khuấy thêm bột sắn để món chè đặc lại. Món ăn vì thế vừa mát, vừa bổ. Nồi chè đậu đen được giữ cho thật ấm. Chè không ăn bằng cốc mà ăn bằng bát. Bát sứ trắng. Những hạt đỗ tròn đều như những con ong trên lớp nước đen sóng sánh, đủ khiến người ta rẽ cái lạnh mà ngồi xuống một hàng chè nào đó bên đường.

Chè đậu xanh sen ngược lại, hạt đậu, hạt sen được ninh nhừ rồi cán cho thật nhuyễn. Cho thêm bột sắn dây, nồi chè đặc quánh lại, cảm giác có thể xắt từng miếng. Khách gọi chè, người bán hàng nhanh nhảu cho đá đập vụn vào cốc, chan thêm chút nước chè sen rồi múc những muôi chè vàng óng. Chè đậu xanh sen số 4 Hàng Cân nổi tiếng bao nhiêu năm nay. Ăn chè đậu xanh sen quán này, gọi thêm trân châu, người thưởng thức có dịp nếm thêm cái dẻo giòn của bột nếp và cùi dừa bùi béo.

Không bàn ghế, không biển hiệu, các quán chè mùa đông của Hà Nội đôi khi chỉ là một quang gánh, mấy cái nồi, chiếc bếp dầu tòong teng trên vai người gánh, song chè đường phố trở thành một cái gì rất đỗi thân quen khi đến thăm Hà Nội. Trong cái lạnh tê người, xúm xít bên mấy chiếc ghế con, nếm cái ngọt ngào nóng hổi của bát chè, người ta thấy mùa nào Hà Nội cũng có những thứ quà khiến lòng người ấm áp./.