Cháo gạo đỏ cá bống thệ

Cháo gạo đỏ cá bống thệ

Cháo gạo đỏ cá bống thệ

Ở Huế, điểm tâm hay ăn khuya có một món bình dân nhưng rất thanh tao, khá ngon miệng và hợp dinh dưỡng đó là cháo gạo đỏ ăn với cá bống thệ kho rim.

Cháo gạo đỏ và cá bống, tôm kho rim – Ảnh: THÁI LỘC

Gạo đỏ dùng để nấu cháo là gạo đặc biệt – người địa phương gọi là gạo hẻo rằn hay gạo chiêm – được xay xát vừa phải để còn lớp cám mỏng quanh hạt.

Có người dùng luôn gạo lứt để khi nấu hạt cháo ít nát và giữ được mùi thơm béo đặc thù của loại gạo quý này. Nồi cháo gạo hẻo rằn dành riêng để ăn với cá bống thệ kho rim phải được nấu theo “ kiểu Huế ”, rất công phu và tốn thời gian: cho nhỏ lửa và đun lâu, hạn chế đảo quậy để hạt gạo nở to, mềm nhưng không bị nát nhừ như khi nấu các loại cháo cá khác.

Cá bống ở VN có khá nhiều loại to nhỏ khác nhau như: bống tượng, bống dừa, bống đao, bống kèo, bống bùn (cá thòi lòi), bống cát, bống mũ, bống sao, bống trứng… Riêng cá bống kho khô để ăn với cháo ở Huế là loài cá bống thệ.

Cá bống này có tên như thế vì thường đánh bắt được ở nơi nước chảy xoáy (thệ thủy: nước xoáy) như vùng Vỹ Dạ, Truồi… Cá bống thệ to hơn cá bống cát sông Trà Khúc, phần thân cá bống thệ rất giống cá thòi lòi miền Nam.

Cá bống đánh bắt về rửa sạch, làm ruột, giữ lại trứng, ướp mắm muối, tiêu… khoảng nửa giờ mới đem kho rim – kho ít nước, lửa liu riu nên thời gian kho rất lâu như rim mứt – với thịt heo mỡ thái nhỏ; kiểu kho rim này gần giống kho tộ của miền Nam.

Nồi cá bống thệ được nêm rất nhiều ớt chín đỏ để nguyên trái (không dùng ớt xanh vì sẽ xỉn màu, xấu nồi cá), rau răm và đường bát chẻ thành viên, điểm đặc biệt là không bao giờ nêm thêm bột ngọt hoặc ruốc như khi kho các loại cá khác.

Khi dọn ra đĩa, thịt cá bống thệ thường vàng ươm, gần như trong suốt, còn thân cá săn cứng và cong lại như chữ C, người Huế gọi “cá ngó đuôi” là đúng kiểu.

Dưới góc độ ẩm thực và dinh dưỡng, món cháo gạo đỏ cá bống thệ kho rim đúng là một món ăn ngon và độc đáo: vừa rất đặc hữu địa phương (con cá và cách rim) vừa có giá trị dinh dưỡng tốt. Theo kinh nghiệm địa phương và đông y, cháo gạo đỏ cá bống thệ rất hiền, có thể dùng cho người bình thường, người già và cả người bệnh.

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Cây chè

Cây chè

Cây chè

Cây chè được coi là một trong những cây dài ngày có mặt rất sớm ở Lâm Đồng và hiện có diện tích lớn nhất nước. Từ năm 1927, người Hà Lan đã bắt tay xây dựng Sở trà Cầu Đất (xã Xuân Trường, Đà Lạt) với quy mô khai khẩn là 1.000ha. Năm 1930, Sở trà Cầu Đất được chuyển giao cho Công ty PIT (Plantation Indochinoise de Thé) của Pháp. Từ sở trà này cây chè phát triển ra khắp vùng Lâm Viên và cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc. Hiện nay, toàn tỉnh có diện tích chè 25.455ha phân bổ ở Đà Lạt, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm và Bảo Lộc; trong đó Bảo Lộc và Bảo Lâm chiếm một diện tích lớn (gần 20 ngàn ha).

Từ những năm 1995 trở về trước, giống chè trồng ở Lâm Đồng chủ yếu là giống chè lai tạp trồng bằng hạt nên năng suất không cao. Liên tục nhiều năm qua, một cuộc cách mạng về giống chè đã làm thay đổi chất lượng trên các vườn chè của Lâm Đồng. Đó là các giống chè mới: TB 14, LĐ 97, LDP.1, Kim Xuyên, Tứ Quý, Thuý Ngọc, Ô Long,… trồng trên diện tích 7.215ha, chiếm 28,6% tổng diện tích chè hiện có.

Hiện nay, toàn tỉnh có 45 doanh nghiệp chế biến kinh doanh trà, riêng Công ty Chè Lâm Đồng có 7 nhà máy chế biến và 1 liên doanh với công suất 5.500 – 7.500 tấn sản phẩm/năm. Bên cạnh đó, 20 công ty đầu tư nước ngoài chế biến 7.000 – 8.000 tấn sản phẩm/năm, tương đương với 35.000 – 40.000 tấn chè búp tươi. Ngoài ra, cả tỉnh có trên 70 danh trà, công suất chế biến bình quân 1.500 kg chè tươi/ngày/cơ sở. Sản phẩm chè chế biến chủ yếu là chè đen OTD và khoảng 15% là chè xanh.

Theo kế hoạch phát triển của cây chè, đến năm 2010, Lâm Đồng sẽ nâng diện tích chè toàn tỉnh lên mức 26.000 – 28.000 ha, trong đó chè cao sản và chè chất lượng cao chiếm khoảng 48% -50%, năng suất bình quân 90 tạ/ha và sản lượng 211.500 – 252.000 tấn chè búp tươi/ năm. Một số dự án trồng mới chè chất lượng cao được triển khai ở Đà Lạt, Di Linh, Bảo Lộc và Bảo Lâm với quy mô 4.000 – 5.000 ha, đồng thời chuyển đổi khoảng 6.500 ha chè hạt sang chè cành. Hiệp hội Chè Việt Nam và cả các nước bạn khi đến Bảo Lộc cũng ghi nhận Bảo Lộc là “thủ đô chè” của Việt Nam bởi đây là “cái rốn” chè của Lâm Đồng. Nhiều danh trà lớn tồn tại hàng mấy chục năm như: Cầu Đất, Minh Rồng, Đỗ Hữu, Quốc Thái, Thiên Hương, gần đây là Trâm Anh, Tâm Châu, Haji, Fushen,… với các sản phẩm chè được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng.

CÂY CÀ PHÊ

Lâm Đồng có trên 200.000ha đất bazan phân bổ ở Bảo Lộc, Di Linh và một phần ở Đức Trọng, Lâm Hà, Đà Lạt phù hợp với cây công nghiệp dài ngày, nhất là cây cà phê. Do đó, đối với cây công nghiệp dài ngày của Lâm Đồng, đứng đầu bảng về diện tích phải nói tới cây cà phê, bởi cây công nghiệp cà phê có ưu thế về giá cả, sản xuất cà phê đem lại hiệu quả kinh tế cao, từ đó hình thành các vùng sản xuất lớn cây cà phê trong những năm qua là tất yếu.

Ở Lâm Đồng có thể trồng được cả 3 chủng loại cà phê: Arabica, Robusta và Charri với chất lượng tốt, đặc biệt là chủng loại cà phê Arabica ở Đà Lạt được người tiêu dùng ưa chuộng.

Tính đến năm 2005, tổng diện tích cà phê của Lâm Đồng là 117.400 ha/ tổng diện tích cây dài ngày của tỉnh 169.486 ha, trong đó hầu hết là chủng loại Robusta, diện tích cà phê kinh doanh hơn 114.152 ha. Với năng suất 18,5 tạ/ha, sản lượng cà phê nhân toàn tỉnh đạt 211.497 tấn. Hầu như cây cà phê có mặt ở 11/12 huyện, thị, thành trong tỉnh – trừ Cát Tiên hiện nay không còn cây cà phê. Vùng chuyên canh cây cà phê là các huyện Bảo Lâm (25.804ha), Di Linh (36.072ha) và Lâm Hà 32.061ha.

Hiện nay có khoảng gần 10 doanh nghiệp trong nước và liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu mua khoảng 20% cà phê nhân, đánh bóng để xuất khẩu. Các cơ sở, hộ gia đình chế biến thành các sản phẩm đồ uống tiêu thụ khoảng 10% cà phê nhân, 70% cà phê nhân còn lại chủ yếu bán thô ra ngoài tỉnh.

Trước năm 1975, Đà Lạt có 5 cơ sở rang cà phê nổi tiếng là Lễ Ký, Cao Nguyên, Tùng, Đà Lạt và Sao, phục vụ cho nội tiêu. Hiện nay, các thương hiệu Lễ Ký, Vĩnh Ích, Boss,… tuy chưa được quảng bá mạnh như cà phê Trung Nguyên nhưng cũng được nhân dân địa phương và du khách ưa chọn.

CÂY DÂU TẰM

Từ những năm 1954-1956, cây dâu đã được trồng và sản xuất thử ở Blao và Djiring với diện tích 10ha. Đến năm 1962, một trung tâm giống dâu được thành lập ở Bảo Lộc đã sản xuất khoảng 300.000 hộp trứng tằm và năm 1963 sản xuất được khoảng 1 triệu hộp trứng. Đồng thời, trung tâm này còn sản xuất 2 triệu hom dâu giống để cung cấp cho các tỉnh Quảng Ngãi, An Giang, Đắc Lắc. Ngoài trung tâm này, ở Di Linh còn có trại tằm tơ Gia Lành.

Cho đến năm 1978, cây dâu ở Lâm Đồng vẫn chưa được phát triển và nghề trồng dâu nuôi tằm chưa thực sự là một nghề thu hút được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Chỉ từ năm 1979, khi những người dân từ các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Hà Đông,… đến Lâm Đồng xây dựng vùng kinh tế mới đã khơi dậy nghề trồng dâu nuôi tằm ở đây. Diện tích trồng dâu tăng rất nhanh và phân bố chủ yếu tại Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương và vùng kinh tế mới Hà Nội. Trong những năm 1989-1993, trồng dâu nuôi tằm đã trở thành phong trào trong nông dân và đời sống của những người làm nghề này được cải thiện rõ rệt.

Thời kỳ thịnh vượng nhất của nghề dâu tằm Lâm Đồng là năm 1994, với diện tích dâu là 17.500ha, gấp hàng chục lần so với năm 1975 và chiếm tới 50% diện tích dâu của toàn quốc.

Cũng chính vào những năm này, Bảo Lộc được mệnh danh là “thủ đô dâu tằm” của cả nước với các nhà máy ươm tơ, dệt lụa hiện đại.

Tuy nhiên, sự phát triển thuận lợi đó nhanh chóng bị chấm dứt ngay từ năm 1995-1996 bởi ảnh hưởng của sự giảm mạnh giá tơ trên thế giới và những lý do chủ quan khác của Tổng công ty dâu tằm tơ.

Bắt đầu từ năm 1999, ngành dâu tằm tơ mới có dấu hiệu khôi phục dần. Đến cuối năm 2000, diện tích trồng dâu trong tỉnh đã tăng lên 3.644ha.

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Lâm Đồng_Đà Lạt

Cá thài bai sông Trà

Hinh minh hoa

Hinh minh hoa

Cá thài bai nhỏ xíu, chỉ bằng đầu đũa, thân hình giống hệt con cá bống. Giống “cá kim” này có hai loại, một loại có mầu trắng tinh từ đầu đến đuôi, loại kia toàn thân cũng là mầu trắng, chỉ khác phía trên sống lưng có một vệt đỏ sẫm. Cả hai loại đều sinh sôi nhiều ở cuối sông Trà (thuộc vùng Khuê Nam – xã Tịnh Khê, Sơn Tịnh) và chỉ rộ vào những tháng của mùa xuân, tức từ tháng Chạp đến tháng 3 âm lịch. Còn các mùa khác trong năm không thấy xuất hiện.

Chúng đi thành từng đàn, ngày đi đêm nghỉ, tìm tới chỗ có cồn cát, nước nông và trong để ngủ. Vào mùa xuân, nước sông Trà xanh như ngọc. Dùng thuyền nhỏ lướt nhẹ hoặc đứng ẩn nấp kín đáo chỗ nào đó trên bờ, rồi dõi mắt xuống dòng nước trong xanh, ta sẽ bắt gặp những đàn cá thài bai chuyển động. Ðàn cá đẹp tựa như dải lụa trắng, đỏ mịn màng. Biết rõ đặc tính và “đường đi nước bước” của loài cá này, nhà chài đã dẫn dụ bằng cách be cát lại thành tuyến dài, rồi đặt chiếc đó thật dày (làm bằng nan tre, mỏng và chắc) ở ngay đầu con nước. Anh em nhà cá mắc bẫy nối đuôi nhau chui hết vào trong đó, nhiều khi đầy nghẹt, phải đợi trút cá ra thúng, mủng, rồi lại đơm tiếp.

Cá thài bai thuộc loại đặc sản quý hiếm. Mỗi cân cá dao động khoảng từ 40 nghìn đến 50 nghìn đồng đắt hơn cá bống (sông Trà). Tuy đắt nhưng đối với những người được ăn một hay nhiều lần thì chẳng bao giờ so đo, mặc cả về giá cả, hễ ngoài chợ có bán là mua ngay về để cả nhà hoặc anh em bè bạn cùng được thưởng thức. Người xứ Quảng thường chế biến cá thài bai thành ba món: hấp, chiên và ram. Trong đó, món chiên là quen thuộc, phổ biến, được nhiều người ưa chuộng. Sau khi rửa thật sạch, ướp mắm muối và các loại gia vị, rồi bắc chảo mỡ lên bếp, phi hành cho thơm, cho cá vào để lửa cháy riu riu, khoảng 10 phút là cá vừa ngấm. Nhắc xuống, bày cá vào đĩa lớn, đi kèm đĩa rau sống sạch, đủ loại, cùng xấp bánh tráng mỏng để cuốn. Cá thài bai ram ăn cùng bánh tráng dày nướng chín, giòn là hợp nhất. Ðối với cánh mày râu, có thêm chút rượu Bàu Ðá (Bình Ðịnh) thì thật rôm rả. Cá thài bai vừa mềm vừa ngon. Mùi vị của nó thơm, quyến rũ lạ, khó có thể diễn tả hết bằng lời. Ai có dịp về Quảng Ngãi được thưởng thức một lần thì khó có thể quên được món ăn dân dã thú vị, đầy tình cảm của người dân xứ Quảng. (Theo ND)

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Quảng Ngãi

Cá thài bai sông Trà

Hình minh họa

Hình minh họa

Cá thài bai nhỏ xíu, chỉ bằng đầu đũa, thân hình giống hệt con cá bống. Giống “cá kim” này có hai loại, một loại có mầu trắng tinh từ đầu đến đuôi, loại kia toàn thân cũng là mầu trắng, chỉ khác phía trên sống lưng có một vệt đỏ sẫm.

Cả hai loại đều sinh sôi nhiều ở cuối sông Trà (thuộc vùng Khuê Nam – xã Tịnh Khê, Sơn Tịnh) và chỉ rộ vào những tháng của mùa xuân, tức từ tháng Chạp đến tháng 3 âm lịch. Còn các mùa khác trong năm không thấy xuất hiện. Chúng đi thành từng đàn, ngày đi đêm nghỉ, tìm tới chỗ có cồn cát, nước nông và trong để ngủ. Vào mùa xuân, nước sông Trà xanh như ngọc.

Dùng thuyền nhỏ lướt nhẹ hoặc đứng ẩn nấp kín đáo chỗ nào đó trên bờ, rồi dõi mắt xuống dòng nước trong xanh, ta sẽ bắt gặp những đàn cá thài bai chuyển động. Ðàn cá đẹp tựa như dải lụa trắng, đỏ mịn màng. Biết rõ đặc tính và “đường đi nước bước” của loài cá này, nhà chài đã dẫn dụ bằng cách be cát lại thành tuyến dài, rồi đặt chiếc đó thật dày (làm bằng nan tre, mỏng và chắc) ở ngay đầu con nước. Anh em nhà cá mắc bẫy nối đuôi nhau chui hết vào trong đó, nhiều khi đầy nghẹt, phải đợi trút cá ra thúng, mủng, rồi lại đơm tiếp.

Cá thài bai thuộc loại đặc sản quý hiếm. Mỗi cân cá dao động khoảng từ 40 nghìn đến 50 nghìn đồng đắt hơn cá bống (sông Trà). Tuy đắt nhưng đối với những người được ăn một hay nhiều lần thì chẳng bao giờ so đo, mặc cả về giá cả, hễ ngoài chợ có bán là mua ngay về để cả nhà hoặc anh em bè bạn cùng được thưởng thức.

Người xứ Quảng thường chế biến cá thài bai thành ba món: hấp, chiên và ram. Trong đó, món chiên là quen thuộc, phổ biến, được nhiều người ưa chuộng. Sau khi rửa thật sạch, ướp mắm muối và các loại gia vị, rồi bắc chảo mỡ lên bếp, phi hành cho thơm, cho cá vào để lửa cháy riu riu, khoảng 10 phút là cá vừa ngấm.

Nhắc xuống, bày cá vào đĩa lớn, đi kèm đĩa rau sống sạch, đủ loại, cùng xấp bánh tráng mỏng để cuốn. Cá thài bai ram ăn cùng bánh tráng dày nướng chín, giòn là hợp nhất. Ðối với cánh mày râu, có thêm chút rượu Bàu Ðá (Bình Ðịnh) thì thật rôm rả. Cá thài bai vừa mềm vừa ngon. Mùi vị của nó thơm, quyến rũ lạ, khó có thể diễn tả hết bằng lời. Ai có dịp về Quảng Ngãi được thưởng thức một lần thì khó có thể quên được món ăn dân dã thú vị, đầy tình cảm của người dân xứ Quảng. (Theo ND)

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Quảng Ngãi – VnExpress

Cá nhám miền biển

Bao năm xa nhà, tôi chẳng thể nào nhớ hết những món ăn mẹ tôi đã nấu. Nhưng hương vị các món nấu từ cá nhám thì tôi lại không thể nào quên.

Dân vùng biển Quảng Nam, hình như ai cũng thích ăn cá nhám. Cá nấu được rất nhiều món ngon, nhưng phổ biến nhất vẫn là món canh chua cá nhám. Canh chua cá nhám dễ nấu, nhưng không phải ai cũng nấu ngon, đòi hỏi người chế biến phải khéo léo, sao cho cá chín mềm mà không nát. Khi ăn thịt cá dai, thấm vị chua ngọt, nước dùng đậm đà thơm ngon.

Cắt cá nhám thành từng miếng vừa ăn, ướp với nước mắm, một ít tiêu xay và không thể thiếu ớt. Phi thơm hành tím, cho cá vào rim đến khi thịt cá thấm gia vị, cho tiếp chuối chát, khế, măng… trộn đều, cuối cùng đổ nước nóng vào đun sôi khoảng 5 – 7 phút là được. Trước khi tắt bếp, có thể cho thêm một ít cà chua vào, cho màu sắc của nồi canh thêm đẹp.

Canh chua cá nhám

Canh chua cá nhám

Cá nhám kho ngọt cùng với chuối thái mỏng là món lạ và rất ngon. Ướp cá với các gia vị như để nấu canh chua, nhưng khi nấu thì xếp một lớp cá, một lớp chuối vào. Khi kho cá, cần lửa nhỏ để vị ngọt của chuối thấm sâu vào bên trong từng thớ thịt của cá, như thế thịt cá mới mềm rục, ngọt thơm mùi chuối. Mỗi lần mẹ tôi nấu món này là y như bữa đó nồi cơm nhà hết veo.

Hôm nào nhà tôi có khách đúng thời điểm cá nhám vào mùa, thế nào mẹ tôi cũng làm món cá nhám nhúng giấm đãi khách. Mẹ chọn cá thật tươi, thái miếng cá mỏng theo chiều ngang, ướp bột nêm, muối, tiêu xay. Giấm dùng để nhúng cá phải là giấm nhà (nuôi) có thể pha thêm nước lọc hoặc nước dừa cho hợp khẩu vị, thả thêm gừng giã dập cho thơm. Đun giấm sôi và cho từng miếng cá vào, sau đó gắp ra dĩa. Nhúng cá với giấm sẽ giúp bay bớt mùi tanh, cá còn tái nên khi thưởng thức ta vẫn cảm nhận được vị ngọt, tươi ngon.

Cá nhám nhúng giấm

Cá nhám phơi khô cũng là một món đặc sản miền biển mà người xa quê hay mua tặng bạn bè ở xa. Xẻ thịt cá nhám, để trên những tấm lưới, phơi nắng khoảng 2 – 3 ngày là khô. Khô cá nhám ngâm nước vo gạo, chặt khúc, rửa sạch, để ráo, ướp sơ muối đường rồi đem chiên. Ăn khô cá nhám chiên với cơm nóng rất “bắt”.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Bánh ú tro Hội An

Năm nào cũng vậy, bắt đầu từ những ngày đầu tháng 5 âm lịch, tại Hội An nhà nhà rộn ràng bước vào mùa làm bánh ú tro. Cùng với những món ăn khác, bánh ú tro đã góp phần minh chứng cho câu nói “Hội An trăm vật trăm ngon”.

Bánh ú tro thành phẩm - Ảnh: T.LY

Bánh ú tro thành phẩm – Ảnh: T.LY

Tiếng thơm này không phải ngẫu nhiên mà có.

Những thau nếp trắng toát, những bó lạt được chẻ mỏng, những xấp lá xếp ngay ngắn… Tất cả đang chờ tay người gói, cho vào nồi nấu rồi chở đi khắp nơi trong và ngoài tỉnh bán cho kịp dịp Tết Đoan Ngọ, rằm tháng 5…

Giống như những nơi khác, nguyên liệu chính làm bánh ú tro cũng từ hạt gạo nếp mộc mạc dân dã nhưng nhờ nguồn nước, sự khéo léo của người gói nên bánh ú tro ở phố cổ Hội An có hương vị riêng, vừa mềm, vừa dẻo lại vừa dòn; không cần chấm đường cát cũng cảm nhận được vị thanh, ngọt béo của nếp.

Tỉ mỉ, kỹ càng là điều cần thiết ở tất cả các khâu từ chọn nếp, cách gạn nước tro, gói cho đến luộc bánh. Nếp ngon phải là loại nếp tháng 3 mới gặt hột mẩy, chắc, ít lộn tẻ (gạo). Nếp đãi sạch ngâm với nước tro. Nước tro ngâm nếp tốt nhất phải là thứ tro đốt từ thân cây mè (nếu tro than thì phải lọc thật kỹ).

Đổ tro vào chậu nước khuấy đều cho đến khi tro thấm nước và chìm xuống, chắt lấy nước tro khá trong ở trên. Cho nếp vào nước tro ngâm ba ngày đêm, sau đó vớt ra vo lại với nước sạch, đổ trên rổ cho ráo nước.

Người Hội An chuyên gói bánh bằng lá kè tại núi Huế. Thường không có sẵn lá nên nhà nào cũng mua về dự trữ trước. Dáng hình và màu sắc của bánh rất quan trọng. Vì vậy, người gói bánh phải cẩn thận, khéo léo cho gạo vào lòng chiếc lá sao cho gọn, đều rồi quấn lá và bẻ mép lá ở hai đầu bánh cho thật khít, thật đều và cân đối.

Dây lạt buộc bánh cũng không được quá chặt để khi đem luộc, hạt gạo nếp có thể nở và chín đều. Trong tích tắc đã có những cái bánh như những tháp nhỏ đặt xung quanh chiếc mâm.

Ngoài ra để có những chiếc bánh không sống, kinh nghiệm mà nhiều người Hội An thường truyền nhau là khi nước sôi thì thắp một cây hương, đến khi hương tàn thì chín bánh. Bánh ú tro luộc chín có màu vàng ươm của nếp ngâm tro, màu lá kè xanh vàng. Chỉ cần cắn một miếng thôi mà như tận hưởng cả mùi thơm đặc trưng của hương đồng cỏ nội.

Bánh ú tro ở Hội An có lịch sử lâu đời, trở thành một món ăn có giá trị về mặt tinh thần đối với cư dân địa phương. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của nhiều mặt hàng bánh hiện nay, bánh ú tro Hội An không những đứng vững trong lòng người dân phố Hội mà còn ở cả thị trường tận TP.HCM, Đà Nẵng…

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Bánh vạc Hội An

Đến Hội An (Quảng Nam), khách du lịch thường tìm món bánh vạc, để thưởng thức đặc sản của vùng đất này.

Bánh vạc có trong thực đơn của các nhà hàng, quán ăn ở Hội An. Nhưng ngon nhất có lẽ là bánh vạc trên đường Nhị Trưng. Phần lớn các hộ gia đình trên đường Nhị Trưng đều sản xuất các loại bánh, trong đó có bánh vạc, để cung cấp cho các nhà hàng, quán ăn trong khu phố cổ Hội An.

Bánh vạc còn có tên gọi là hoa hồng trắng, bởi hình dáng bên ngoài trông giống những đóa hoa hồng trắng. Nguyên liệu chính để làm bánh vạc là gạo. Để có món bánh vạc ngon, bột gạo phải được lọc đi, lọc lại nhiều lần. Gạo vo kỹ, ngâm nước nửa ngày cho ngấm đủ nước, xả lại nước lạnh nhiều lần rồi mới xay thành bột. Ngâm bột với nước, sau đó để bột lắng xuống, đổ nước trong ở trên mặt. Lắng bột như thế khoảng 10 lần đến khi bột thật trong. Bột càng lọc kỹ thì bánh mới dai, ngon, không vỡ mà không cần phải bỏ thêm hóa chất hay hàn the.

Trút bột vào trong túi vải, treo lên cho ráo (khô) hết nước, hoặc muốn nhanh thì dùng một tấm gỗ ép chặt bột để nước chảy ra. Bột ráo nước, cho vào trong thau. Nhồi bột là bí quyết riêng của người làm bánh vạc ở Nhị Trưng. Bột nhồi sao cho dẻo quánh, dàn mỏng trên tay thấy trong là được.

Nhân bánh vạc chủ yếu làm từ tôm tươi, hay thịt xay nhuyễn trộn với tiêu, hành, nấm mèo, muối, nước mắm…tất cả được xào chín. Viên nhân thành hình tròn rồi bọc bên ngoài bằng một lớp bột sắn dây mỏng, hấp chín. Lấy lượng bột vừa phải, cán mỏng, rồi cho nhân lên trên, ấn nhẹ để nhân dính chặt vào vỏ bánh. Xếp bánh vào vỉ hấp khoảng 10 phút, bánh chín sẽ trắng trong trông rất hấp dẫn.

Dọn bánh ra dĩa, rắc hành phi lên trên, dùng nóng với nước mắm ớt vừa ăn.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Bánh lá gai

Bánh lá gai

Bánh lá gai

Bây giờ, khi đã sắp làm mẹ, tôi vẫn còn nhớ cảm giác sung sướng của mấy chị em tôi khi được đón từ tay mẹ những chiếc bánh nhỏ xinh gói trong lá chuối. Đó là chiếc bánh được mua bằng tiền của những mớ rau chiều hôm trước mẹ tôi tần tảo nhặt nhạnh đem bán để “cải thiện” bữa ăn cho cả gia đình.

Nhưng những đứa nhỏ chúng tôi chưa đủ lớn để ý thức được rằng, nếu phải mua hàng quà cho chúng tôi sau mỗi buổi chợ, mẹ phải tính toán từng đồng cho thật hợp lý một cách vất vả. Và cũng cho đến bây giờ, khi tôi có thể mua và thưởng thức những thứ bánh hảo hạng nhất mà mình thích thì tôi vẫn chưa thấy loại bánh nào có thể thay thế được hương vị ngọt ngào như chiếc bánh mẹ mua cho mấy mươi năm trước. Đó là bánh lá gai.

Ở quê tôi, bánh lá gai được thấy nhiều nhất vào mỗi dịp lễ Tết. Hầu như nhà nào, dù giàu hay nghèo cũng đều có để mời khách. Các bà mẹ chồng ở quê thường nhìn vào chiếc bánh lá gai do các nàng dâu tương lai thể hiện mà đánh giá về khả năng nội trợ của họ. Cũng có thể nhiều người làm được thứ bánh này, nhưng để có một chiếc bánh vừa dẻo thơm, vừa ngọt bùi và đẹp mắt thì không phải ai cũng làm được. Những chiếc bánh nhỏ xinh ấy thường được tạo nên từ đôi tay khéo léo của người phụ nữ đảm đang, tháo vát.

Mùa xuân, cây gai đâm chồi và cho những cành lá xanh non, người ta chặt về từng bó, tuốt bỏ cọng, gân lá rồi cắt nhỏ. Khi nước vừa sôi, thả lá gai vào nồi cho sôi tiếp khoảng mười lăm phút, khi lá gai mềm thì bắc xuống. Sau khi lá nguội, vắt ráo nước, rồi cho vào cối giã nhuyễn.

Để làm nên cái dẻo của bánh, người ta phải đãi nếp thật sạch, đem xay thành bột, sau đó để ráo nước. Khi bột khô, vùi tay vào bột thấy mát lạnh nhưng không ướt thì đem trộn với bột lá gai rồi tiếp tục giã cho đến lúc con bột mịn quánh lại là được. Làm bánh lá gai phải có thời gian, vì thế ở quê tôi bánh thường được làm vào những dịp lễ tết, giỗ lạp. Những lúc ấy, công việc đồng áng đã rãnh rỗi, người phụ nữ mới có thời gian để chuẩn bị cho các công đoạn làm thứ bánh dân dã nhưng cũng lắm công phu này.

Nguyên liệu làm nhân bánh là đậu xanh. Sau khi đãi sạch vỏ, người ta đem hoong đậu cho vừa chín, sau đó trộn với đường, gừng tươi giã nhỏ rồi viên thành từng viên tròn nhỏ (nhân đậu phải gắt và mịn nhưng không nhão). Bánh lá gai ngon thôi chưa đủ, mà còn phải đẹp mắt, vì thế lá gói bánh cũng được chuẩn bị rất cẩn thận. Lá phải còn non, sau khi luộc qua cho mềm lá (để khi gói lá không bị gãy, rách), người ta cắt thành miếng hình tròn hoặc hình bầu dục, tùy theo cách gói của từng người.

Một chiếc bánh đẹp thường có một đến hai chóp và không để lộ dù một mẩu lá thừa. Để ăn, người ăn bánh phải tinh ý mới biết cách mở bánh. Dù không đơn giản nhưng không phải người phụ nữ nào cũng biết gói đúng cách. Bởi nó dân dã nhưng cũng rất tinh tế.

Bây giờ, muốn ăn chiếc bánh lá gai, người ta dễ dàng có được nó bất cứ nơi đâu. Ra Bắc, ghé Thanh Hóa là có ngay bánh lá gai gói lá chuối khô mang về làm quà. Vô Nam, ghé Hội An cũng có bánh lá gai nhưng nếu ai đã một lần được ăn bánh lá gai ở làng quê có gần trăm ngày hưởng gió lào, hẳn không thể quên được hương vị ngọt ngào của nó.

Cũng vị thơm của gừng, ngọt dẻo của đường, nếp; cũng là lá gai nhưng hình như lá của những cây gai mọc bên hố bom bị bom Mỹ cày xới hay trên những đồng đất bazan quê tôi mới làm nên cái màu xanh đặc trưng của bánh. Cũng là loại bánh ấy nhưng dưới bàn tay tảo tần của những người mẹ quê, ta lại cảm nhận được những phút giây hạnh phúc mà tuổi thơ ta may mắn có được

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Quảng Trị

Bánh phục linh

Bánh phục linh – quà vặt của trẻ con Nam bộ ngày xưa – nay trở thành món ăn chơi được nhiều người ưa thích.

Bánh phục linh

Bánh phục linh

Cách làm bánh phục linh gần giống như cách làm bánh in, nhưng công đoạn rang và nhồi bột kì công hơn. Nguyên liệu làm bánh gồm có bột năng, đường, nước cốt dừa, lá dứa hoặc màu thực phẩm. Bột trước khi cho vào khuôn ép thành bánh phải được rang chín cùng với lá dứa cho thơm.

Lá dứa cắt khúc cho vào chảo cùng với bột năng, rang nhỏ lửa. Khi rang bột phải dùng đũa đảo đều tay, để bột không bị cháy vàng, đến khi ngửi thấy mùi thơm thì dùng tay bóp nhẹ thấy lá dứa giòn vỡ ra là bột đã chín. Đợi bột nguội, dùng rây lược bỏ lá dứa. Để tạo ra nhiều hương vị khác nhau, người ta có thể rang bột cùng cánh hoa lài, hoa bưởi, hay bột vani…Ở Nam bộ bánh phục linh thường được làm với lá dứa, nhưng ở Huế người ta thường rang hoa lài với bột.

Muốn bánh có màu xanh đẹp, lá dứa phải được trụng sơ với nước ấm rồi xay nhuyễn lấy nước cốt. Dừa nạo sợi, nhồi kĩ vắt nước cho vào nồi, thêm vào một lượng đường vừa đủ nhấc lên bếp thắng sệt lại. Chia nước dừa làm hai hay nhiều phần, một phần để nguyên, những phần còn lại trộn với nước lá dứa hoặc pha thêm màu thực phẩm tùy thích. Khi pha thêm nước lá dứa, hay màu thực phẩm phải tiếp tục nấu nước dừa sôi lên lần nữa mới trộn bột làm bánh.

Trộn bột phải khéo vì nếu ướt hoặc khô quá, bánh sẽ không chắc và khó kết dính với nhau. Chia bột ra thành nhiều phần, một phần để màu tự nhiên, các phần còn lại trộn với nước dừa đã pha sẵn màu từ trước. Khâu quan trọng nhất là nhồi bột, cho nước dừa vào trộn chung với bột đã rang, từ từ từng ít một, để bột vừa đủ độ ẩm là được.

Khuôn dùng làm bánh bằng gỗ hoặc nhựa tùy thích với những hình thù khác nhau. Rắc một ít bột khô vào khuôn cho khỏi dính, cho bột đã trộn vào ép chặt, úp lại, gõ nhẹ ở đáy khuôn rồi lấy bánh ra. Bánh phục linh thường làm để ăn ngay nên sau hai ngày bánh có thể hỏng. Nếu muốn giữ lâu hơn, hãy cho bánh vào khay và sấy khô, để nguội rồi xếp trong hũ thủy tinh, đậy kín. Bánh phục linh ăn thơm ngọt, nhâm nhi cùng ly trà nóng vào những lúc rảnh rỗi rất thú vị.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Bánh phồng nếp ở Nha Trang

Bánh phồng nếp sản xuất tại Diên An

Bánh phồng nếp sản xuất tại Diên An

Bánh phồng nếp (BPN) vốn là đặc sản nổi tiếng của tỉnh Bến Tre, được làm từ gạo nếp và nước cốt dừa. Giờ đây, BPN đã có mặt ở Khánh Hòa. Không đơn giản là chuyện mở rộng thị trường, từ trong sâu thẳm, chuyện BPN đến Nha Trang còn bởi những người làm bánh chan chứa niềm cảm mến người dân xứ Trầm…

Không biết từ khi nào, câu ca “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc” đã trở thành câu hát quen thuộc của người dân Bến Tre và vùng châu thổ sông Tiền. Phù sa sông Tiền đã hun đúc cho Bến Tre sản sinh ra nhiều đặc sản có giá trị, trong đó có BPN.

đây là nghề truyền thống nên được duy trì trở thành làng nghề. Sản phẩm BPN hiện có mặt ở nhiều nơi, từ đồng bằng sông Cửu Long đến miền Trung…”.

Theo anh Thuận, cách chế biến BPN cũng đơn giản: nếp đem ngâm, sau đó đồ xôi. Quết nếp bằng cối đá có nước cốt dừa và gia vị gồm muối, đường, mè cho vừa ăn. Đem xôi này “bắt” thành từng con (1,8kg/100 con). Trải miếng nilon, úp từng con vào cán phẳng thành bánh. Đem bánh ra phơi nắng là được bán thành phẩm, sau đó nướng trên vỉ là có BPN. Anh Thuận cũng lưu ý thời gian nướng

° Điểm đến Nha Trang

Tôi hỏi anh Thuận tại sao lại mang BPN đến sản xuất ở Nha Trang, anh cho biết, sau một vài lần đến Nha Trang, không hiểu tại sao anh thấy mến nơi này, người dân ở đây thật thân thiện và mến khách. Nha Trang – Khánh Hòa còn có thể làm điểm trung chuyển BPN đi các tỉnh miền Trung. Theo anh Thuận, đường xa có thể làm bánh bị vỡ nếu không có cách bảo quản thích hợp, vì vậy cần lập một điểm trung chuyển ở Nha Trang. Anh Thuận đã thuê nhà một người quen trên đường 23-10 (thuộc địa phận xã Diên An, Diên Khánh) để mở lò. Hàng ngày anh thuê 8 lao động làm bánh, chủ yếu là người Bến Tre. Cơ sở của anh chuyển bán thành phẩm từ Bến Tre về đây để xử lý. Bánh được nướng tại chỗ và đưa vào túi nilon, mỗi túi 10 bánh. Với giá bán sỉ 7.000 đồng/túi, BPN đang được người dân Khánh Hòa đón nhận. Hiện mỗi ngày, cơ sở của anh sản xuất 200 túi (2.000 bánh). BPN đang được bày bán tại nhiều chợ ở Nha Trang như: chợ Đầm, Xóm Mới, Vĩnh Hải và các chợ ở nông thôn trong tỉnh.

BPN do cơ sở của anh Thuận sản xuất mang tên Kim Ngân. Đây là tên thương hiệu của cơ sở Tuyết Xuân (791, Ấp 2, Hưng Nhượng, Giồng Trôm, Bến Tre) sản xuất, được Trung tâm Y tế dự phòng huyện Giồng Trôm chứng nhận. Hiện anh Thuận đang chờ giấy phép kinh doanh do huyện Diên Khánh cấp để hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh.

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Báo Khánh Hòa