Chè đậu ván hương quê

Nghỉ phép tôi về quê thăm mợ, đón ly chè đậu ván từ bàn tay gầy gò mà nghe lòng rưng rưng. Vẫn vị ngọt lịm, mát lành mà dẫu có thưởng thức rất nhiều món chè thanh tao nơi phố thị tôi cũng không tìm ra.

Mát lạnh ly chè đậu ván - Ảnh: T.L.

Mát lạnh ly chè đậu ván – Ảnh: T.L.

Ngày còn ở quê, nhà nghèo nên bố mẹ đi làm ăn xa, chị em tôi phải sống nhờ nhà mợ. Tôi thường cùng mợ lên rẫy chăm đám khoai, luống rau, luống đậu. Bên cạnh các loại đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh… mợ dành riêng một vạt rẫy để trồng đậu ván. Đến mùa vụ, những hạt đậu trắng, to bằng đầu ngón áp út được mợ hái về phơi khô để dành dùng quanh năm.

Mỗi khi nhà có giỗ chạp, cúng quải thế nào mợ cũng nấu món xôi cách điệu thêm những hạt đậu ván căng tròn. Vị béo, ngọt của đậu ván lẫn chút thơm thanh tú của nếp vụ mới tan dần trong miệng, thật là tuyệt. Những hôm nhà có khách, mợ đãi món hầm (gà, vịt… ) nhất thiết phải thêm vài hạt đậu ván mới đúng điệu. Nhưng với tôi, không biết từ bao giờ lại ghiền hương vị ngọt ngào, mát lịm pha lẫn mùi cay nồng của gừng từ món chè đậu ván mợ nấu.

Nguyên liệu làm nên chè đậu ván vốn khá giản đơn, gắn liền với tên gọi của nó. Chỉ chừng vài lon đậu, ít lát gừng, đường cát vừa trắng (đủ để chè có màu hơi vàng). Bao giờ cũng thế, mợ chọn những hạt đậu căng tròn, lựa bỏ hạt lép hoặc sâu rồi ngâm qua nước ấm. Mươi lăm phút sau khi đậu hơi mềm, dùng tay nhẹ nhàng bóc lớp màng lụa bên ngoài.

Hạt đậu bây giờ đã trắng tròn mơn mởn được rửa qua nước sạch để ráo. Công đoạn tiếp theo là hấp cách thủy đậu. Đậu sau khi chín thả vào nước đường đun lửa vừa, khéo léo khuấy nhẹ để không bị nát. Hôm nào nhạt miệng, muốn đậu có vị ngọt đậm hơn, mợ phải xào kỹ với đường kính sau đó thả vào nước đường.

Nấu nước đường làm chè cũng là một nghệ thuật, sao cho nước có màu trong, vị ngọt thanh, thơm nồng của gừng. Trước khi ăn, mợ mang cả nồi chè ướp lạnh rồi múc vào từng ly nhỏ. Nhìn những hạt đậu tươi tròn đều tăm tắp dưới đáy bát, màu hơi ngả sang vàng ngà, người ăn không nỡ vội vàng mà chậm rãi thưởng thức từng hạt mới cảm nhận hết hương vị mà có lẽ chỉ có ở những vùng quê.

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Chè bột nếp “Tết Trung nguyên”

Bà ngoại tôi “rời” mẹ tôi đúng vào ngày lễ Vu lan khi mẹ vừa chớm tuổi thiếu nữ. Mỗi năm đến lễ Vu lan mẹ tôi lại bần thần nhớ về ngoại. Gia đình tôi đã chọn cách gọi Tết Trung nguyên thay vì lễ Vu lan trong những ngày rằm tháng 7 hằng năm để mẹ bớt đau lòng và biến ngày này trở thành ngày sum họp trong gia đình, cả nhà làm chè bột nếp “mời” ngoại…

Chè

Chè “Tết Trung nguyên” của gia đình tôi – Ảnh: M.H.

Bà ngoại hiện hữu trong trái tim mỗi chúng tôi theo những hồi ức của ông ngoại tôi, theo những tiếng nấc nghẹn của mẹ mỗi khi kể về người.

Với chị em tôi, bà khi là người phụ nữ chân chất, thật thà như đếm, người ta bỏ quên cả xách tiền ngay trước mặt mình, thay vì ôm ngay về nhà thì ngoại lại ngồi tại chỗ đợi người ta cả đêm để gửi lại cho họ – theo lời kể dí dỏm của ông ngoại; khi lại là người mẹ ngọt ngào nhất, yêu thương con bằng tất cả trái tim theo lời kể của mẹ.

Nhưng có một điểm chung trong mỗi hồi ức của ông ngoại và mẹ tôi về bà đó là người có tài nấu chè bột nếp rất ngon.

Ngày giỗ đầu tiên của ngoại, món ăn không thể thiếu trong mâm giỗ là những chén chè bột nếp do chính tay mẹ tôi và ông ngoại nhào nặn nên. Chén chè lần đầu ấy lẫn lộn giữa bột nếp, đậu xanh bị vỡ nát bởi làm không quen và chứa chan nước mắt của mẹ và ông khi nhớ về bà.

Theo thời gian hình ảnh đặc quánh nỗi buồn của người đàn ông trung niên và cô con gái trẻ đã được thay vào hình chí chóe nhau của chúng tôi khi nặn bột, hình ảnh ba tôi vụng về nặn bánh, ông ngoại tôi mỉm cười nhẹ nhõm.

Bây giờ món chè Tết Trung nguyên của gia đình tôi được làm rất tròn trịa, như một dịp để mọi người quây quần bên nhau.

Đêm trước ngày lễ, mẹ tôi thường cho ngâm đậu xanh trước để đậu mềm ra, đãi vỏ thật sạch làm nhân cho món chè bột nếp. Nấu chín đậu, quết đều tay cho đậu thật mịn. Phi hơi vàng hành tím với dầu, cho đậu xanh đã quết mịn vào xào, đảo đều. Sau đó cho một ít đường, một ít muối trộn đều với nhau khoảng 5 phút trên lửa vừa để đậu vừa có vị béo của dầu ăn, thơm thơm của hành phi, ngòn ngọt của đường, mằn mặn của muối. Sau đó vo viên vừa ăn.

Những năm trước đây để có bột nếp nấu chè, mẹ phải tự tay ngâm nếp đem xay. Nhưng nay mẹ chọn mua loại bột nếp thơm đóng gói sẵn cho một ít nước sôi vào trộn cho nước ngấm vào bột, nhồi bột cho mịn, khi nào thấy bột quện thành hỗn hợp dẻo là được. Chia bột thành từng viên nhỏ, ấn hơi dẹt, cho nhân vào gói kín.

Khi gói chúng tôi thường chấm một ít dầu đã phi hành sẵn trên tay để bột không bị dính lại vào tay dễ gây ra vỡ bánh khi đã cho nhân vào.

Những chiếc bánh bột nếp này sẽ được nấu chín, vớt ra cho đảo qua với nước lạnh để không bị dính cục. Món chè đặc biệt này mẹ tuyệt đối chỉ nấu với đường phèn, sau khi đường tan trong nước sôi, bột nếp sẽ được cho vào cùng gừng giã nhuyễn.

Nấu sôi nhẹ cho nước đường phèn thấm vào bột bánh, mùi thơm của gừng đủ quyện vào trong từng chiếc bánh bột nếp là có thể nhắc xuống, hoàn thành món chè bột nếp ngon lành “mời” bà ngoại tôi trong ngày lễ Vu lan, trong ngày Tết Trung nguyên của gia đình tôi.

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Chè bột lọc bọc thịt heo quay

Chè bột lọc bọc thịt heo quay

Chè bột lọc bọc thịt heo quay

Bột lọc dùng để làm các món ngọt như bánh hoặc chè, thường được vo tròn thành những viên nhỏ, khi nấu chín bột từ màu trắng đục thành màu trắng trong, ăn với nước đường.

Ảnh minh họa – Nguồn: Internet

Thịt heo quay là món ăn mặn được dùng trong dịp giỗ chạp, hay các bữa cơm gia đình. Hai món ngọt và mặn này tuy khác nhau nhưng lại được kết hợp thành một món chè bột lọc thịt heo quay rất ngon.

Để có một nồi chè bột lọc nhân thịt heo quay, nguyên liệu gồm có bột lọc (bột năng, bột khoai mì) thịt đùi heo quay, đường, mè rang vàng giã nhuyễn, gừng non cắt sợi.

Thịt đùi heo quay cắt hạt lựu, trộn đường phèn, đổ nước vào (xăm xắp mặt) đặt lên bếp rim nhỏ lửa cho thịt ngấm đường, (nước đường rim xong đổ bỏ vì có màng mỡ) vớt ra đem phơi nơi bóng râm để thịt heo trở nên trong. Khi thịt trong mới trộn vào một ít ngũ vị hương để nhân có mùi thơm đặc trưng.

Bột lọc chọn mua loại tốt, dáo (nhồi) với nước ấm thật mịn, dẻo, không dính tay là được. Vo bột thành từng viên nhỏ cỡ ngón tay cái, cho nhân thịt vào giữa xếp trên dĩa. Tiếp đến là công đoạn sên nước đường. Đường phèn cho vào nồi đun lửa nhỏ, khi đường đã ngả sang màu vàng mới châm thêm nước lọc. Đợi nước đường sôi, thả nhẹ từng viên bột vào. Khi viên bột chín sẽ trong và nổi lên, vớt bọt để nồi chè trong, trước khi tắt bếp nhớ cho gừng vào.

Múc chè ra chén, rắc thêm mè rang, thưởng thức ngay khi vừa nấu hoặc dùng nguội đều ngon. Bột trong dai giòn cộng với vị ngọt thanh của đường phèn, vị béo của thịt làm cho món chè bột lọc bọc thịt heo quay mang hương sắc riêng, không lẫn vào đâu được.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Canh bồng nấu don

Ngày nghỉ cuối tuần, chạy xe trên con đường làng lầy lội sau cơn mưa chiều hạ, tôi về thăm ngoại. Con đường in dấu những kỷ niệm tuổi thơ êm đẹp nằm bên dòng sông hiền hòa, đôi bờ xanh mát dãy khoai ngứa đang mơn mởn bồng non vươn ra đón ánh sáng mặt trời.

dùng nấu canh - Ảnh: TTO

dùng nấu canh – Ảnh: TTO

Vẫn con đường ấy, vẫn dòng sông ấy và cả cuộc sống thanh bình như xưa. Chỉ khác tôi đang dần lớn lên, ngoại ngày một già yếu và không còn những ngày tôi lon ton chạy dọc bờ sông theo ngoại lần từng gốc khoai ngứa lấy bồng non.

Những ngọn bồng non mập mạp, thân trắng nõn ngoại

Ngày còn nhỏ gia đình tôi nghèo lắm, bố mẹ phải đi làm xa, tôi ở nhà với ngoại. Ngoại nuôi tôi khôn lớn với những món ăn “đặc sản” được ngoại chế biến từ cây nhà lá vườn và với tất cả sự thương yêu của ngoại dành cho đứa cháu nhỏ dại. Phải chăng chính sự nghèo khó ấy mà vô hình bát canh bồng khoai nấu don của ngoại đã gắn kết với tôi cho tới tận bây giờ.

Nhà ngoại ở đầu làng nên dọc nửa bờ sông bên này ngoại tận dụng đất trồng khoai ngứa để cắt về nuôi đàn lợn nhà. Rau khoai ngứa không ăn được nhưng bồng khoai (ngó khoai) mà nấu canh don thì với tôi có lẽ không cao lương mỹ vị nào bằng.

Sau những trận mưa to, bồng non tua tủa ngoi ra núp dưới tán lá xanh to mơn mởn còn đọng mưa rơi. Trong lúc tôi mải mê với cái trò đi gom nước, rót từ lá này sang lá kia thì ngoại lom khom lần dưới gốc cây chọn những ngọn non, mập mạp, thân trắng nõn. Ngoại nhặt từng nắm, từng nắm rồi đưa lên bờ cho tôi xếp ngay ngắn buộc thành từng bó lớn hơn để sớm mai mang ra chợ bán, lấy tiền mua thêm don về nấu chung với ngọn bồng.

Don là loài thủy sản sống ở nước lợ, vùi thân trong cát, giống hình hạt xoài, lớn hơn đầu đũa một chút. Ngoài nấu canh với bồng khoai, don còn chế biến thành nhiều món ngon khác như: don nấu canh chua ăn với bún, don nấu mồng tơi, don nấu bầu… rất ngọt, mát.

áng ngoại đi chợ, tôi ở nhà tước bồng để trưa ngoại về nấu canh cho hai bà cháu. Tôi còn nhớ ngoại dặn phải dùng tay chứ không được dùng dao để tước bỏ lớp xơ, lớp vỏ mỏng bao ngoài. Tước đến đâu thì ngâm ngay vào chậu nước lạnh có pha chút muối đến đó, tránh bị thâm ngọn và giảm cái lăn tăn ngứa nơi cổ họng khi ăn.

Tước xong, tôi thường ngồi chơi trông nhà và chờ quà vặt ngoại đi chợ về. Vừa thấy bóng ngoại, tôi nhanh chân chạy, miệng hét lớn thay… lời chào và nhìn vào làn xách xem ngoại có mua bánh rán cho tôi không, sau đó mới tới don để nấu canh bồng.

Ngày ấy tôi còn nhỏ nên không biết đãi don làm canh mà cứ quấn quýt bên cạnh xem ngoại làm. Don được đãi lấy hết ruột đem phi thơm với hành tỏi băm nhỏ. Nước luộc don rất ngọt nên không đổ đi mà dùng để nấu canh nhưng cần phải lọc bỏ cấn.

Bồng khoai trước khi nấu phải đem luộc sơ với nước muối. Ngoại bảo làm thế sẽ bớt đi vị chát và cả cái râm ran mà tôi hay “kêu” mỗi khi ăn món canh này. Một bí quyết nữa là nấu canh bồng phải ninh thật nhừ nhưng tuyệt đối không được dùng đũa khuấy trong khi nấu, nếu không sẽ rất ngứa khó ăn.

Lúc bồng được ninh nhừ thì trút don đã phi thơm vào đun cùng. Nấu canh bồng khoai không thể thiếu đi vị nồng của mắm tôm và hương thơm của rau ngổ mọc bên góc ao nhà ngoại. Chẳng cần cơm thịt, cơm cá, chỉ cần độc món canh bồng nấu don “để vào môi trôi vào ruột” của ngoại tôi cũng có thể đánh bay cả nồi cơm, vét sạch sành sanh không còn hạt nào.

Giờ đây tôi đã lớn khôn và chuyển lên thành phố ở cùng bố mẹ. Nhưng tất cả hình ảnh, kỷ niệm với làng quê nơi đây, với tình yêu ngoại dành cho tôi cũng như bát canh thơm mát sền sệt ngoại nấu năm nào mãi mãi không thể nào quên được.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Cá linh kho đọt cóc – món ăn ngày lũ

Cá linh có thể chế biến được nhiều món ngon như: cá linh kho lạt, kho khô, kho mía, kho bứa, làm chả, nấu canh chua bông điên điển, nhúng lẩu mắm… Nhưng món cá linh kho đọt cóc được cả nhà tôi ghiền nhất.

Trước sân nhà tôi có trồng một cây cóc. Mùa nước lũ tràn về cũng là mùa cóc ra trái. Mỗi khi ba đánh bắt được cá linh mang về nhà, má sai tôi ra sân lấy cây sào kéo nhánh cóc xuống, hái những đọt non để má chế biến món ăn. Theo lời má, cá linh nấu với lá cóc non rất ngon vì mùi thơm đặc trưng, lẫn vị chua chua của lá khiến ta ngon miệng hơn.

Cá linh phải lựa cá thật tươi, cá linh nhỏ càng ngon, vì có thể ăn luôn cả xương. Cá mang về, bỏ ruột, dùng dao cắt vây, đuôi (không cắt đầu, đánh vảy), rửa sạch để ráo. Đọt cóc chọn lá non, rửa sạch để ráo. Phi mỡ (dầu) cùng đầu hành lá xắt nhuyễn cho thơm rồi đổ nước lạnh vào nồi nấu sôi. Nêm nếm gia vị (bột ngọt + nước mắm) vừa ăn. Tiếp đến, cho cá linh vào nồi nấu chín (nhớ đừng để cá mềm quá, mất ngon). Cuối cùng, cho đọt cóc non vào, khi nào lá cóc chuyển sang màu vàng thì nhắc xuống. Thêm rau cần (xắt khúc) và một ít tiêu xay vào, múc ra tô là xong. Chuẩn bị thêm chén nước mắm ngon nguyên chất với trái ớt chín. Món này ăn với bún ngon phải biết.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Cải ngồng tháng 3

Cứ mỗi độ tháng 3, cùng với màu đỏ của hoa gạo, màu tím của hoa xoan là màu vàng của hoa cải. Cải ngồng thường trổ bông vào những ngày cuối tháng 3, trong những đợt gió se lạnh còn sót lại của mùa xuân.

Cải ngồng ưa thời tiết lạnh, độ ẩm không khí cao chỉ thích hợp trồng ở miền Bắc; miền Nam khí hậu nóng nên không có thứ rau đặc sản này. Trong các loại cải thì cải ngồng đặc biệt nhất, vì chỉ ăn ngồng chứ không ăn thân, lá, bẹ.

Vào đầu tháng 3 những người nông dân miền Bắc mới gieo những hạt cải được chọn từ vụ trước xuống những luống đất đã xới lên tơi xốp. Cải phát triển rất nhanh, chỉ 3 ngày là đã nhú mầm lên khỏi mặt đất. Nhiều người tỉa bớt những mầm cải trong giai đoạn này để ăn sống, rất tốt cho sức khỏe, vì mần cải chứa nhiều chất dinh dưỡng và vitamin tự nhiên.

Để có những ngồng cải là cả một vòng đời cải, từ hạt, thành mầm, phát triển thành ngồng. Giai đoạn từ mầm cải thành ngồng rất ngắn, khoảng chừng 20 ngày. Khi những ngồng cải bắt đầu nhú lên, là toàn bộ dinh dưỡng của thân cây tập trung vào để nuôi ngồng.

Ngồng cải bắt đầu có những nụ hoa vàng hé nở cũng là lúc thu hoạch. Người ta chỉ bẻ ngồng ăn chứ không thu hái hết cả thân cây như cải xanh, cải trắng. Hái và nhặt ngồng cải cũng phải đúng cách và khéo léo. Nhiều người không biết, khi mua ngồng cải về, cứ thế vứt bỏ hết, chỉ lấy mình lá để rồi sau đó thở dài chê cải già quá. Cải ngồng đặc biệt là thế, ngọt ngon nằm ở cái mà người ta không biết nên vội bỏ đi ấy.

Làm ngồng cải phải thật kiên nhẫn, dùng tay tước nhẹ, lột lớp vỏ xơ bên ngoài ngồng, sau đó bẻ thành từng khúc ngắn, vừa có lá, vừa có hoa… Cải ngồng luộc lên chấm nước mắm hay xào với chút hành, gừng cũng đủ ngon ngọt…

Để có những ngồng cải cho mùa sau, người nông dân chọn để lại những cây mập khỏe làm giống. Ngồng cải không bị bẻ cứ thế vươn cao trổ bông vàng rực cả một góc trời, rồi kết lại thành hạt, cho một vòng đời cải ngồng nối tiếp.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Các món bí đỏ bổ dưỡng

PNO – Bí đỏ nằm trong danh sách thực phẩm giàu dinh dưỡng, rất tốt cho sức khỏe. Với một hàm lượng vitatmin C, canxi, protein, chất xơ phong phú, bí đỏ giúp chống oxy hóa, điều hòa huyết áp, hỗ trợ hệ miễn dịch.

Các món bí đỏ bổ dưỡng

Các món bí đỏ bổ dưỡng

Trong bữa ăn hàng ngày, bí đỏ thường được các bà nội trợ dùng để chế biến nhiều món ăn ngon miệng như:

1. Sườn hầm bí đỏ

* Nguyên liệu:

– Bí đỏ gọt vỏ, thái miếng vuông

– Sườn chặt miếng vừa ăn

– 2 thìa tỏi băm

– ½ thìa đường

– Nước mắm, hạt nêm, muối tiêu, dầu ăn

* Cách làm:

– Sườn rửa sạch, chần sườn qua nước sôi. Vớt sườn ra, rửa lại bằng nước lạnh lần nữa.

– Ướp sườn với muối tiêu, đường, dầu ăn. Để 30 phút cho ngấm.

– Đặt chảo lên bếp, cho dầu ăn vào đun nóng. Phi tỏi thơm, cho sườn vào đảo sơ cho vàng. Cho nước vào ngập sườn, vặn to lửa, đậy vung, đun sôi đến khi sườn chín và mềm nhừ.

– Cho tiếp bí đỏ vào, nêm nếm nước mắm, hạt nêm vừa ăn. Đun sôi nhỏ lửa cho tới khi bí chín.

– Múc sườn hầm bí đỏ ra tô, dùng với cơm nóng

2. Bí đỏ hầm dừa

* Nguyên liệu:

– Bí đỏ gọt vỏ, thái miếng vuông

– Khoai lang hoặc khoai môn gọt vỏ, thái miếng vuông

– Đậu phộng ngâm nước nóng, lột bỏ vỏ

– Dừa nạo: vắt lấy nước cốt và nước dão

– Gia vị, ngò om

* Cách làm

– Cho bí và đậu phộng vào nước dão dừa, nấu sôi

– Bí gần chín, cho khoai lang vào. Hầm mềm các thứ, nêm gia vị vừa ăn.

– Tiếp tục cho nước cốt dừa vào, nhắc xuống, rắc ngò om lên trên.

3. Bí đỏ xào

* Nguyên liệu

– Bí đỏ gọt vỏ, cắt miếng vừa ăn

– Nước dùng

– Tỏi băm nhỏ, hành tươi

– Đường, nước mắm, muối, dầu ăn

Thực hiện:

– Cho dầu vào chảo, đun sôi, cho tỏi vào, vặn nhỏ lửa, đảo đều tay. Cho tiếp bí đỏ, rắc đường lên trên và đảo đều.

– Đổ nước dùng hoặc nước lã, nước mắm vào vặn to lửa, đun sôi. Đậy vung lại cho đến khi bí chín mềm thì rắc hành lên. Bày món ăn ra đĩa, ăn chung với cơm nóng.

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Cách chế trà bát bảo mát và bổ

Trà bát bảo là loại nước giải khát và trị bệnh, vị ngọt, mùi thơm. Bạn có thể dễ dàng tự chế loại trà này để dùng trong những ngày nóng.

Cách chế trà bát bảo mát và bổ

Cách chế trà bát bảo mát và bổ

Trà bát bảo có tác dụng bổ dưỡng, giải nhiệt, thông tiểu, cầm nôn, tiêu độc, thích hợp với các trường hợp nhiệt, nhất là trong ngày hè nóng bức, cơ thể mất nước nhiều.

Nguyên liệu: Lá tre 20 gr để tươi, rễ cỏ tranh 5 gr, hoa hoặc cành lá kim ngân 5 gr, rễ ngưu tất 5 gr, thục địa 5 gr, cam thảo bắc 5 gr, ý dĩ 5 gr và mía 50 gr.

Liều lượng mỗi thứ có thể gia giảm nhưng không nên nhiều quá để nước nấu quá đặc. Có thể thay thế lá tre bằng rau má, nhân trần; thay rễ cỏ tranh bằng râu ngô, lá mã đề; thay ngưu tất bằng thổ phục linh, tỳ giải; thay kim ngân bằng bồ công anh, sài đất; thay thục địa bằng hoàng tinh, huyền sâm; thay cam thảo bắc bằng cao thảo dây, cao thảo đất; thay ý dĩ bằng hạt sen, hoài sơn.

Cách pha chế: Cho mía đã chẻ thành thanh nhỏ, mỏng và các dược liệu với liều lượng như đã nêu trên vào nồi hoặc ấm nhôm. Đổ vào một lít nước, đun đến sôi, giữ âm ỉ trong 15 – 20 phút là được.

Khi dùng, chắt nước uống nóng hoặc để nguội tùy sở thích của từng người. Dùng đến đâu, pha chế đến đó, không nấu nhiều và để nước lưu cữu qua ngày

Nguồn tin: Phụ nữ Online

Các bữa ăn ở Hy Lạp

Hình minh hoạ

Hình minh hoạ

Bữa sáng (proceno) là bữa ăn nhẹ thường vào lúc 7 giờ. Nhiều người chỉ uống cà phê Hy Lạp, loại cà phê rất đặc pha thêm đường. Đôi khi người ta uống cà phê cùng với một lát bánh mì phết bơ, mật ong hoặc mứt.

Bữa trưa (yevma) là bữa chính, người dân nơi đây ăn tại nhà khoảng 2 đến 3 giờ chiều. Bữa ăn gồm món khai vị, thịt hoặc cá, xà lách, sữa chua với mật ong và trái cây tráng miệng. Rượu vang, bia và nước khoáng cũng thường được uống vào bữa trưa. Cà phê theo tập quán được uống sau bữa ăn.

Bữa tối theo kiểu Hy Lạp (deipnon) được ăn khá muộn, khoảng 10 giờ đêm. Phần lớn mọi người đều lót dạ vào bữa chiều. Nhiều loại đồ ăn như ô liu, pho mát, bánh mì mới nướng, một ít thịt cừu hoặc cá nướng được khai vị cho bữa tối trước đó, vì vậy không ai bị quá đói cả. Các bữa tối ở gia đình có thể có các món như bữa trưa nhưng bánh ngọt thường được dọn ra sau trái cây. Người Hy Lạp thường ra ngoài ăn tối. Có nhiều món cho họ lựa chọn và khách ăn có thể vào tận nhà bếp để quan sát việc nấu nướng.

Đăng tin: Kim Tuyến

Nguồn: Sưu Tầm

Bí đỏ giải nhiệt

Bí đỏ giải nhiệt

Bí đỏ giải nhiệt

Trong bí đỏ có một số chất quan trọng như protein, gluxit, các vitamin như B1, B2, PP, B6, B5, các axit béo như linoleic, linolenic, beta – caroten, nguyên tố vi lượng và các axit amin như alanine, valin, leucin, cystin, lysin…

nên bí đỏ đóng vai trò khá quan trọng cho việc tăng trưởng xương, phát triển thị giác, nhuận trường, bảo vệ da, bồi dưỡng thần kinh,…

Cây bí đỏ từ quả, lá, hoa, hạt đều có thể chế biến thành các món ăn ngon. Đọt bí dùng để xào hay nấu canh, hạt bí rang cũng là một món ăn rất thú vị.

Bông bí tuy số lượng ít nhưng chế biến được nhiều món ăn hấp dẫn. Ở chợ người ta thường bán bông bí cùng với đọt bí non. Bông bí mua về xẻ một đường để lấy tim ở giữa bỏ đi, tước cạnh chung quanh bông và lớp da nhám ngoài cuống, sau đó rửa sạch để ráo.

Bông bí luộc vài phút trong nồi nước sôi là đủ chín; vớt ra để nguội, vắt bớt nước nhưng không được khô quá. Bông bí luộc chấm nước kho cá, kho thịt hay chấm nước tương giầm ớt ăn với cơm nóng tuyệt không gì bằng!

Nhai từng cọng bông bí luộc người ăn cảm nhận được cái vị ngòn ngọt, một chút bùi bùi, phần tiếp giáp giữa cuống và bông có cảm giác dai dai. Ngoài ra, bông bí còn dùng để nấu canh, xào tỏi, xào thịt bò, xào nghêu,…

Khi xào bông bí phải canh cho vừa đủ chín mới còn giữ được độ giòn. Cầu kỳ hơn là đưa vào lòng bông bí thịt heo bằm nhuyễn đã trộn với các loại gia vị, cột túm lại đem hấp. Lúc ăn cắt thành từng khúc đặt ra dĩa, người ăn sẽ được thưởng thức cái hương vị vừa thơm vừa béo rất là lạ.

Đặc biệt, các món chế biến từ quả bí đỏ rất bổ dưỡng. Người ta thường nấu chè bí đỏ, đậu xanh ăn để giải nhiệt những buổi trưa hè nóng bức. Bí đỏ gọt vỏ, cắt miếng, đậu xanh rửa sạch ngâm vào nước lạnh cho nở. Đổ bí đỏ và đậu xanh vào hầm nhừ, cho đường vào đánh nhuyễn như cháo, bỏ ít bột vani cho thơm hơn. Chè này vừa bổ dưỡng vừa có tác dụng chữa đau đầu, kém trí nhớ. Ngoài ra, bí đỏ có thể nấu canh với thịt hoặc nấu chay với đường, đậu phụng.

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Tuổi Trẻ