Cây chè

Cây chè

Cây chè

Cây chè được coi là một trong những cây dài ngày có mặt rất sớm ở Lâm Đồng và hiện có diện tích lớn nhất nước. Từ năm 1927, người Hà Lan đã bắt tay xây dựng Sở trà Cầu Đất (xã Xuân Trường, Đà Lạt) với quy mô khai khẩn là 1.000ha. Năm 1930, Sở trà Cầu Đất được chuyển giao cho Công ty PIT (Plantation Indochinoise de Thé) của Pháp. Từ sở trà này cây chè phát triển ra khắp vùng Lâm Viên và cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc. Hiện nay, toàn tỉnh có diện tích chè 25.455ha phân bổ ở Đà Lạt, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm và Bảo Lộc; trong đó Bảo Lộc và Bảo Lâm chiếm một diện tích lớn (gần 20 ngàn ha).

Từ những năm 1995 trở về trước, giống chè trồng ở Lâm Đồng chủ yếu là giống chè lai tạp trồng bằng hạt nên năng suất không cao. Liên tục nhiều năm qua, một cuộc cách mạng về giống chè đã làm thay đổi chất lượng trên các vườn chè của Lâm Đồng. Đó là các giống chè mới: TB 14, LĐ 97, LDP.1, Kim Xuyên, Tứ Quý, Thuý Ngọc, Ô Long,… trồng trên diện tích 7.215ha, chiếm 28,6% tổng diện tích chè hiện có.

Hiện nay, toàn tỉnh có 45 doanh nghiệp chế biến kinh doanh trà, riêng Công ty Chè Lâm Đồng có 7 nhà máy chế biến và 1 liên doanh với công suất 5.500 – 7.500 tấn sản phẩm/năm. Bên cạnh đó, 20 công ty đầu tư nước ngoài chế biến 7.000 – 8.000 tấn sản phẩm/năm, tương đương với 35.000 – 40.000 tấn chè búp tươi. Ngoài ra, cả tỉnh có trên 70 danh trà, công suất chế biến bình quân 1.500 kg chè tươi/ngày/cơ sở. Sản phẩm chè chế biến chủ yếu là chè đen OTD và khoảng 15% là chè xanh.

Theo kế hoạch phát triển của cây chè, đến năm 2010, Lâm Đồng sẽ nâng diện tích chè toàn tỉnh lên mức 26.000 – 28.000 ha, trong đó chè cao sản và chè chất lượng cao chiếm khoảng 48% -50%, năng suất bình quân 90 tạ/ha và sản lượng 211.500 – 252.000 tấn chè búp tươi/ năm. Một số dự án trồng mới chè chất lượng cao được triển khai ở Đà Lạt, Di Linh, Bảo Lộc và Bảo Lâm với quy mô 4.000 – 5.000 ha, đồng thời chuyển đổi khoảng 6.500 ha chè hạt sang chè cành. Hiệp hội Chè Việt Nam và cả các nước bạn khi đến Bảo Lộc cũng ghi nhận Bảo Lộc là “thủ đô chè” của Việt Nam bởi đây là “cái rốn” chè của Lâm Đồng. Nhiều danh trà lớn tồn tại hàng mấy chục năm như: Cầu Đất, Minh Rồng, Đỗ Hữu, Quốc Thái, Thiên Hương, gần đây là Trâm Anh, Tâm Châu, Haji, Fushen,… với các sản phẩm chè được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng.

CÂY CÀ PHÊ

Lâm Đồng có trên 200.000ha đất bazan phân bổ ở Bảo Lộc, Di Linh và một phần ở Đức Trọng, Lâm Hà, Đà Lạt phù hợp với cây công nghiệp dài ngày, nhất là cây cà phê. Do đó, đối với cây công nghiệp dài ngày của Lâm Đồng, đứng đầu bảng về diện tích phải nói tới cây cà phê, bởi cây công nghiệp cà phê có ưu thế về giá cả, sản xuất cà phê đem lại hiệu quả kinh tế cao, từ đó hình thành các vùng sản xuất lớn cây cà phê trong những năm qua là tất yếu.

Ở Lâm Đồng có thể trồng được cả 3 chủng loại cà phê: Arabica, Robusta và Charri với chất lượng tốt, đặc biệt là chủng loại cà phê Arabica ở Đà Lạt được người tiêu dùng ưa chuộng.

Tính đến năm 2005, tổng diện tích cà phê của Lâm Đồng là 117.400 ha/ tổng diện tích cây dài ngày của tỉnh 169.486 ha, trong đó hầu hết là chủng loại Robusta, diện tích cà phê kinh doanh hơn 114.152 ha. Với năng suất 18,5 tạ/ha, sản lượng cà phê nhân toàn tỉnh đạt 211.497 tấn. Hầu như cây cà phê có mặt ở 11/12 huyện, thị, thành trong tỉnh – trừ Cát Tiên hiện nay không còn cây cà phê. Vùng chuyên canh cây cà phê là các huyện Bảo Lâm (25.804ha), Di Linh (36.072ha) và Lâm Hà 32.061ha.

Hiện nay có khoảng gần 10 doanh nghiệp trong nước và liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu mua khoảng 20% cà phê nhân, đánh bóng để xuất khẩu. Các cơ sở, hộ gia đình chế biến thành các sản phẩm đồ uống tiêu thụ khoảng 10% cà phê nhân, 70% cà phê nhân còn lại chủ yếu bán thô ra ngoài tỉnh.

Trước năm 1975, Đà Lạt có 5 cơ sở rang cà phê nổi tiếng là Lễ Ký, Cao Nguyên, Tùng, Đà Lạt và Sao, phục vụ cho nội tiêu. Hiện nay, các thương hiệu Lễ Ký, Vĩnh Ích, Boss,… tuy chưa được quảng bá mạnh như cà phê Trung Nguyên nhưng cũng được nhân dân địa phương và du khách ưa chọn.

CÂY DÂU TẰM

Từ những năm 1954-1956, cây dâu đã được trồng và sản xuất thử ở Blao và Djiring với diện tích 10ha. Đến năm 1962, một trung tâm giống dâu được thành lập ở Bảo Lộc đã sản xuất khoảng 300.000 hộp trứng tằm và năm 1963 sản xuất được khoảng 1 triệu hộp trứng. Đồng thời, trung tâm này còn sản xuất 2 triệu hom dâu giống để cung cấp cho các tỉnh Quảng Ngãi, An Giang, Đắc Lắc. Ngoài trung tâm này, ở Di Linh còn có trại tằm tơ Gia Lành.

Cho đến năm 1978, cây dâu ở Lâm Đồng vẫn chưa được phát triển và nghề trồng dâu nuôi tằm chưa thực sự là một nghề thu hút được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Chỉ từ năm 1979, khi những người dân từ các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Hà Đông,… đến Lâm Đồng xây dựng vùng kinh tế mới đã khơi dậy nghề trồng dâu nuôi tằm ở đây. Diện tích trồng dâu tăng rất nhanh và phân bố chủ yếu tại Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương và vùng kinh tế mới Hà Nội. Trong những năm 1989-1993, trồng dâu nuôi tằm đã trở thành phong trào trong nông dân và đời sống của những người làm nghề này được cải thiện rõ rệt.

Thời kỳ thịnh vượng nhất của nghề dâu tằm Lâm Đồng là năm 1994, với diện tích dâu là 17.500ha, gấp hàng chục lần so với năm 1975 và chiếm tới 50% diện tích dâu của toàn quốc.

Cũng chính vào những năm này, Bảo Lộc được mệnh danh là “thủ đô dâu tằm” của cả nước với các nhà máy ươm tơ, dệt lụa hiện đại.

Tuy nhiên, sự phát triển thuận lợi đó nhanh chóng bị chấm dứt ngay từ năm 1995-1996 bởi ảnh hưởng của sự giảm mạnh giá tơ trên thế giới và những lý do chủ quan khác của Tổng công ty dâu tằm tơ.

Bắt đầu từ năm 1999, ngành dâu tằm tơ mới có dấu hiệu khôi phục dần. Đến cuối năm 2000, diện tích trồng dâu trong tỉnh đã tăng lên 3.644ha.

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Lâm Đồng_Đà Lạt

Advertisements

Cá thài bai sông Trà

Hinh minh hoa

Hinh minh hoa

Cá thài bai nhỏ xíu, chỉ bằng đầu đũa, thân hình giống hệt con cá bống. Giống “cá kim” này có hai loại, một loại có mầu trắng tinh từ đầu đến đuôi, loại kia toàn thân cũng là mầu trắng, chỉ khác phía trên sống lưng có một vệt đỏ sẫm. Cả hai loại đều sinh sôi nhiều ở cuối sông Trà (thuộc vùng Khuê Nam – xã Tịnh Khê, Sơn Tịnh) và chỉ rộ vào những tháng của mùa xuân, tức từ tháng Chạp đến tháng 3 âm lịch. Còn các mùa khác trong năm không thấy xuất hiện.

Chúng đi thành từng đàn, ngày đi đêm nghỉ, tìm tới chỗ có cồn cát, nước nông và trong để ngủ. Vào mùa xuân, nước sông Trà xanh như ngọc. Dùng thuyền nhỏ lướt nhẹ hoặc đứng ẩn nấp kín đáo chỗ nào đó trên bờ, rồi dõi mắt xuống dòng nước trong xanh, ta sẽ bắt gặp những đàn cá thài bai chuyển động. Ðàn cá đẹp tựa như dải lụa trắng, đỏ mịn màng. Biết rõ đặc tính và “đường đi nước bước” của loài cá này, nhà chài đã dẫn dụ bằng cách be cát lại thành tuyến dài, rồi đặt chiếc đó thật dày (làm bằng nan tre, mỏng và chắc) ở ngay đầu con nước. Anh em nhà cá mắc bẫy nối đuôi nhau chui hết vào trong đó, nhiều khi đầy nghẹt, phải đợi trút cá ra thúng, mủng, rồi lại đơm tiếp.

Cá thài bai thuộc loại đặc sản quý hiếm. Mỗi cân cá dao động khoảng từ 40 nghìn đến 50 nghìn đồng đắt hơn cá bống (sông Trà). Tuy đắt nhưng đối với những người được ăn một hay nhiều lần thì chẳng bao giờ so đo, mặc cả về giá cả, hễ ngoài chợ có bán là mua ngay về để cả nhà hoặc anh em bè bạn cùng được thưởng thức. Người xứ Quảng thường chế biến cá thài bai thành ba món: hấp, chiên và ram. Trong đó, món chiên là quen thuộc, phổ biến, được nhiều người ưa chuộng. Sau khi rửa thật sạch, ướp mắm muối và các loại gia vị, rồi bắc chảo mỡ lên bếp, phi hành cho thơm, cho cá vào để lửa cháy riu riu, khoảng 10 phút là cá vừa ngấm. Nhắc xuống, bày cá vào đĩa lớn, đi kèm đĩa rau sống sạch, đủ loại, cùng xấp bánh tráng mỏng để cuốn. Cá thài bai ram ăn cùng bánh tráng dày nướng chín, giòn là hợp nhất. Ðối với cánh mày râu, có thêm chút rượu Bàu Ðá (Bình Ðịnh) thì thật rôm rả. Cá thài bai vừa mềm vừa ngon. Mùi vị của nó thơm, quyến rũ lạ, khó có thể diễn tả hết bằng lời. Ai có dịp về Quảng Ngãi được thưởng thức một lần thì khó có thể quên được món ăn dân dã thú vị, đầy tình cảm của người dân xứ Quảng. (Theo ND)

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Quảng Ngãi

Cá thài bai sông Trà

Hình minh họa

Hình minh họa

Cá thài bai nhỏ xíu, chỉ bằng đầu đũa, thân hình giống hệt con cá bống. Giống “cá kim” này có hai loại, một loại có mầu trắng tinh từ đầu đến đuôi, loại kia toàn thân cũng là mầu trắng, chỉ khác phía trên sống lưng có một vệt đỏ sẫm.

Cả hai loại đều sinh sôi nhiều ở cuối sông Trà (thuộc vùng Khuê Nam – xã Tịnh Khê, Sơn Tịnh) và chỉ rộ vào những tháng của mùa xuân, tức từ tháng Chạp đến tháng 3 âm lịch. Còn các mùa khác trong năm không thấy xuất hiện. Chúng đi thành từng đàn, ngày đi đêm nghỉ, tìm tới chỗ có cồn cát, nước nông và trong để ngủ. Vào mùa xuân, nước sông Trà xanh như ngọc.

Dùng thuyền nhỏ lướt nhẹ hoặc đứng ẩn nấp kín đáo chỗ nào đó trên bờ, rồi dõi mắt xuống dòng nước trong xanh, ta sẽ bắt gặp những đàn cá thài bai chuyển động. Ðàn cá đẹp tựa như dải lụa trắng, đỏ mịn màng. Biết rõ đặc tính và “đường đi nước bước” của loài cá này, nhà chài đã dẫn dụ bằng cách be cát lại thành tuyến dài, rồi đặt chiếc đó thật dày (làm bằng nan tre, mỏng và chắc) ở ngay đầu con nước. Anh em nhà cá mắc bẫy nối đuôi nhau chui hết vào trong đó, nhiều khi đầy nghẹt, phải đợi trút cá ra thúng, mủng, rồi lại đơm tiếp.

Cá thài bai thuộc loại đặc sản quý hiếm. Mỗi cân cá dao động khoảng từ 40 nghìn đến 50 nghìn đồng đắt hơn cá bống (sông Trà). Tuy đắt nhưng đối với những người được ăn một hay nhiều lần thì chẳng bao giờ so đo, mặc cả về giá cả, hễ ngoài chợ có bán là mua ngay về để cả nhà hoặc anh em bè bạn cùng được thưởng thức.

Người xứ Quảng thường chế biến cá thài bai thành ba món: hấp, chiên và ram. Trong đó, món chiên là quen thuộc, phổ biến, được nhiều người ưa chuộng. Sau khi rửa thật sạch, ướp mắm muối và các loại gia vị, rồi bắc chảo mỡ lên bếp, phi hành cho thơm, cho cá vào để lửa cháy riu riu, khoảng 10 phút là cá vừa ngấm.

Nhắc xuống, bày cá vào đĩa lớn, đi kèm đĩa rau sống sạch, đủ loại, cùng xấp bánh tráng mỏng để cuốn. Cá thài bai ram ăn cùng bánh tráng dày nướng chín, giòn là hợp nhất. Ðối với cánh mày râu, có thêm chút rượu Bàu Ðá (Bình Ðịnh) thì thật rôm rả. Cá thài bai vừa mềm vừa ngon. Mùi vị của nó thơm, quyến rũ lạ, khó có thể diễn tả hết bằng lời. Ai có dịp về Quảng Ngãi được thưởng thức một lần thì khó có thể quên được món ăn dân dã thú vị, đầy tình cảm của người dân xứ Quảng. (Theo ND)

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Quảng Ngãi – VnExpress

Bánh lá gai

Bánh lá gai

Bánh lá gai

Bây giờ, khi đã sắp làm mẹ, tôi vẫn còn nhớ cảm giác sung sướng của mấy chị em tôi khi được đón từ tay mẹ những chiếc bánh nhỏ xinh gói trong lá chuối. Đó là chiếc bánh được mua bằng tiền của những mớ rau chiều hôm trước mẹ tôi tần tảo nhặt nhạnh đem bán để “cải thiện” bữa ăn cho cả gia đình.

Nhưng những đứa nhỏ chúng tôi chưa đủ lớn để ý thức được rằng, nếu phải mua hàng quà cho chúng tôi sau mỗi buổi chợ, mẹ phải tính toán từng đồng cho thật hợp lý một cách vất vả. Và cũng cho đến bây giờ, khi tôi có thể mua và thưởng thức những thứ bánh hảo hạng nhất mà mình thích thì tôi vẫn chưa thấy loại bánh nào có thể thay thế được hương vị ngọt ngào như chiếc bánh mẹ mua cho mấy mươi năm trước. Đó là bánh lá gai.

Ở quê tôi, bánh lá gai được thấy nhiều nhất vào mỗi dịp lễ Tết. Hầu như nhà nào, dù giàu hay nghèo cũng đều có để mời khách. Các bà mẹ chồng ở quê thường nhìn vào chiếc bánh lá gai do các nàng dâu tương lai thể hiện mà đánh giá về khả năng nội trợ của họ. Cũng có thể nhiều người làm được thứ bánh này, nhưng để có một chiếc bánh vừa dẻo thơm, vừa ngọt bùi và đẹp mắt thì không phải ai cũng làm được. Những chiếc bánh nhỏ xinh ấy thường được tạo nên từ đôi tay khéo léo của người phụ nữ đảm đang, tháo vát.

Mùa xuân, cây gai đâm chồi và cho những cành lá xanh non, người ta chặt về từng bó, tuốt bỏ cọng, gân lá rồi cắt nhỏ. Khi nước vừa sôi, thả lá gai vào nồi cho sôi tiếp khoảng mười lăm phút, khi lá gai mềm thì bắc xuống. Sau khi lá nguội, vắt ráo nước, rồi cho vào cối giã nhuyễn.

Để làm nên cái dẻo của bánh, người ta phải đãi nếp thật sạch, đem xay thành bột, sau đó để ráo nước. Khi bột khô, vùi tay vào bột thấy mát lạnh nhưng không ướt thì đem trộn với bột lá gai rồi tiếp tục giã cho đến lúc con bột mịn quánh lại là được. Làm bánh lá gai phải có thời gian, vì thế ở quê tôi bánh thường được làm vào những dịp lễ tết, giỗ lạp. Những lúc ấy, công việc đồng áng đã rãnh rỗi, người phụ nữ mới có thời gian để chuẩn bị cho các công đoạn làm thứ bánh dân dã nhưng cũng lắm công phu này.

Nguyên liệu làm nhân bánh là đậu xanh. Sau khi đãi sạch vỏ, người ta đem hoong đậu cho vừa chín, sau đó trộn với đường, gừng tươi giã nhỏ rồi viên thành từng viên tròn nhỏ (nhân đậu phải gắt và mịn nhưng không nhão). Bánh lá gai ngon thôi chưa đủ, mà còn phải đẹp mắt, vì thế lá gói bánh cũng được chuẩn bị rất cẩn thận. Lá phải còn non, sau khi luộc qua cho mềm lá (để khi gói lá không bị gãy, rách), người ta cắt thành miếng hình tròn hoặc hình bầu dục, tùy theo cách gói của từng người.

Một chiếc bánh đẹp thường có một đến hai chóp và không để lộ dù một mẩu lá thừa. Để ăn, người ăn bánh phải tinh ý mới biết cách mở bánh. Dù không đơn giản nhưng không phải người phụ nữ nào cũng biết gói đúng cách. Bởi nó dân dã nhưng cũng rất tinh tế.

Bây giờ, muốn ăn chiếc bánh lá gai, người ta dễ dàng có được nó bất cứ nơi đâu. Ra Bắc, ghé Thanh Hóa là có ngay bánh lá gai gói lá chuối khô mang về làm quà. Vô Nam, ghé Hội An cũng có bánh lá gai nhưng nếu ai đã một lần được ăn bánh lá gai ở làng quê có gần trăm ngày hưởng gió lào, hẳn không thể quên được hương vị ngọt ngào của nó.

Cũng vị thơm của gừng, ngọt dẻo của đường, nếp; cũng là lá gai nhưng hình như lá của những cây gai mọc bên hố bom bị bom Mỹ cày xới hay trên những đồng đất bazan quê tôi mới làm nên cái màu xanh đặc trưng của bánh. Cũng là loại bánh ấy nhưng dưới bàn tay tảo tần của những người mẹ quê, ta lại cảm nhận được những phút giây hạnh phúc mà tuổi thơ ta may mắn có được

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Quảng Trị

Bánh phồng nếp ở Nha Trang

Bánh phồng nếp sản xuất tại Diên An

Bánh phồng nếp sản xuất tại Diên An

Bánh phồng nếp (BPN) vốn là đặc sản nổi tiếng của tỉnh Bến Tre, được làm từ gạo nếp và nước cốt dừa. Giờ đây, BPN đã có mặt ở Khánh Hòa. Không đơn giản là chuyện mở rộng thị trường, từ trong sâu thẳm, chuyện BPN đến Nha Trang còn bởi những người làm bánh chan chứa niềm cảm mến người dân xứ Trầm…

Không biết từ khi nào, câu ca “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc” đã trở thành câu hát quen thuộc của người dân Bến Tre và vùng châu thổ sông Tiền. Phù sa sông Tiền đã hun đúc cho Bến Tre sản sinh ra nhiều đặc sản có giá trị, trong đó có BPN.

đây là nghề truyền thống nên được duy trì trở thành làng nghề. Sản phẩm BPN hiện có mặt ở nhiều nơi, từ đồng bằng sông Cửu Long đến miền Trung…”.

Theo anh Thuận, cách chế biến BPN cũng đơn giản: nếp đem ngâm, sau đó đồ xôi. Quết nếp bằng cối đá có nước cốt dừa và gia vị gồm muối, đường, mè cho vừa ăn. Đem xôi này “bắt” thành từng con (1,8kg/100 con). Trải miếng nilon, úp từng con vào cán phẳng thành bánh. Đem bánh ra phơi nắng là được bán thành phẩm, sau đó nướng trên vỉ là có BPN. Anh Thuận cũng lưu ý thời gian nướng

° Điểm đến Nha Trang

Tôi hỏi anh Thuận tại sao lại mang BPN đến sản xuất ở Nha Trang, anh cho biết, sau một vài lần đến Nha Trang, không hiểu tại sao anh thấy mến nơi này, người dân ở đây thật thân thiện và mến khách. Nha Trang – Khánh Hòa còn có thể làm điểm trung chuyển BPN đi các tỉnh miền Trung. Theo anh Thuận, đường xa có thể làm bánh bị vỡ nếu không có cách bảo quản thích hợp, vì vậy cần lập một điểm trung chuyển ở Nha Trang. Anh Thuận đã thuê nhà một người quen trên đường 23-10 (thuộc địa phận xã Diên An, Diên Khánh) để mở lò. Hàng ngày anh thuê 8 lao động làm bánh, chủ yếu là người Bến Tre. Cơ sở của anh chuyển bán thành phẩm từ Bến Tre về đây để xử lý. Bánh được nướng tại chỗ và đưa vào túi nilon, mỗi túi 10 bánh. Với giá bán sỉ 7.000 đồng/túi, BPN đang được người dân Khánh Hòa đón nhận. Hiện mỗi ngày, cơ sở của anh sản xuất 200 túi (2.000 bánh). BPN đang được bày bán tại nhiều chợ ở Nha Trang như: chợ Đầm, Xóm Mới, Vĩnh Hải và các chợ ở nông thôn trong tỉnh.

BPN do cơ sở của anh Thuận sản xuất mang tên Kim Ngân. Đây là tên thương hiệu của cơ sở Tuyết Xuân (791, Ấp 2, Hưng Nhượng, Giồng Trôm, Bến Tre) sản xuất, được Trung tâm Y tế dự phòng huyện Giồng Trôm chứng nhận. Hiện anh Thuận đang chờ giấy phép kinh doanh do huyện Diên Khánh cấp để hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh.

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Báo Khánh Hòa

Bánh hỏi phú long

Hình minh họa

Hình minh họa

Ai về Bình Thuận cho theo Phú Long bánh hỏi lòng heo – nhớ hoài!

Thật vậy, đến Bình Thuận nếu chưa thưởng thức bánh hỏi Phú Long thì chuyến du lịch xứ biển quả thật chưa trọn vẹn.

Đó là món ăn gồm: bánh hỏi, lòng heo, bánh tráng mỏng, rau sống và nước chấm. Bánh hỏi Phú Long mới nhìn qua tưởng đơn giản, nhưng chế biến cũng thật công phu. Để có được bánh hỏi bạn thưởng thức vừa ý, người làm bánh phải chọn thứ gạo tốt, làm ra từng con sợi trắng tinh, ráo hỏi. Lòng heo, nhất là bao tử phải sạch hết mùi hôi. Miếng dồi bắt mắt, dọn ra dậy mùi hấp dẫn, nhìn qua đã kích thích khẩu vị vô cùng.

Bánh hỏi lòng heo thường được dùng trong dịp cưới xin, tiệc tùng hoặc điểm tâm sáng. Khi ăn, cuốn bánh tráng với bánh hỏi lòng heo, kẹp rau sống ở giữa, rồi chấm nước mắm chanh đặc biệt. Hương vị lạ có chất béo ngọt của lòng heo, vị ngọt đượm tí chua của nước chấm quyện với rau sống, khiến người ăn thật khoái khẩu.

Bánh hỏi lòng heo xuất xứ từ xóm Lụa – Phú Long (nay là xã Hàm Nhơn huyện Hàm Thuận Bắc), là một trong những loại ẩm thực độc đáo của Bình Thuận, đã có lâu đời. Bí quyết chế biến được ”Cha truyền con nốí’, ngày nay đã thành ”Lò” sản xuất, chuyên cung cấp cho những tiệm ăn đặc sản trong vùng. Món ẩm thực này du khách có thể thưởng thức ngay trong thành phố biển. Nhưng muốn ăn đúng hương vị quê hương phải đến Phú Long, cách Phan Thiết chừng 7 cây số. Nơi đây san sát gần 20 tiệm ăn nằm dọc hai bên đường quốc lộ 1A. Xe xuôi ngược Bắc Nam khi ngang qua vào mỗi sáng thường ít khi bỏ lỡ dịp thưởng thức. Còn vào ngày thứ bảy, chủ nhật, và các dịp lễ lớn, thực khách đến đây rất đông.

Chỉ cần khoảng vài ngàn đồng theo giá bình dân hay giá gấp đôi ở những tiệm sang hơn, thực khách sẽ được một phần ăn ngon lành. Nhưng dù có đi đâu về đâu nhiều người vẫn thích ghé tiệm ăn số 40 đường Trần Phú, Phan Thiết. Cái ngon đậm đà của bánh hỏi lòng heo phải kể đến nước chấm, nên đa số các tiệm ăn đều có bí quyết pha chế riêng để khẳng định tên tuổi của mình.

Đăng tin: Xuân Trường

Nguồn tin: Báo Bình Thuận

Ăn chay ở phố

“Ẩm thực chay thuần khiết” 100%, nhưng gọi món gì… cũng có. Chuyện ở quán Tâm – Thanh Sang. Quán cách trung tâm phố cổ chừng 1,5km, ở phía bắc Hội An, đường Nguyễn Chí Thanh, trên trục đường ra chùa Vạn Đức (Cẩm Hà). Chỉ dẫn có vẻ dài dòng, nhưng hỏi bất kỳ người Hội An nào cũng có thể chỉ rõ ràng nơi quán dựng.

Ăn chay ở phố

Ăn chay ở phố

Xa thành phố vẫn đông khách vì rộng và vì cả không gian “thiền” của Tâm – Thanh Sang, ngày nào cũng vậy chứ không chỉ đợi rằm hay mồng một. Dùng bữa, có thể gọi cơm gà hay thập cẩm, bún, phở, cao lầu… Ngon nhất vẫn là hương vị hoa cỏ, trái cây với món gỏi rau, ram chả chiên giòn hay bì chay ngọt dịu… và kết thúc bằng món lẩu thập cẩm toàn rau xanh (rau xanh, cải ngọt, môn sáp, nấm hương, mộc nhĩ, tôm chay). Không chỉ giới bình dân, đạo hữu hay phật tử, quán còn đón cả thương nhân, chính trị gia cùng gia đình chọn bữa ăn kiêng, lạ miệng, sau những ngày quen dùng rượu, thịt…

Hãy thử một lần bỏ lại sân si ngoài quán để tịnh tâm với những món ăn giúp mỗi người lắng lòng với bao điều hướng thiện ở một quán chay bạn thích khi ghé phố, có thể là quán Tâm này, tại sao không?

* Giá đồng hạng 13.000 đồng/ suất cơm, phở, bún…. Món lẩu bình quân không quá 30.000 đồng/khẩu phần.

Đăng tin: Văn Lâm

Nguồn tin: Báo Quảng Nam

Ẩm thực của người H’re trong ngày tết

Ngày tết về các huyện Ba Tơ, Minh Long Sơn Hà (Quảng Ngãi) – địa bàn cư trú của dân tộc H’re, du khách sẽ được thưởng thức món rượu cần, thịt trâu nướng lá lốt và thịt trâu nấu xà bần, cá niêng nướng chấm muối ớt. Những món ăn địa phương dân dã nhưng hấp dẫn nhiều du khách.

Những món ăn, thức uống của đồng bào dân tộc H’re

Ở các huyện miền núi Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà từ xa xưa đồng bào dân tộc H’re đã nuôi trâu. Con trâu cùng với chiêng ché, nồi đồng trước đây là thước đo sự giàu nghèo. Người H’re nuôi trâu để cúng Giàng trong ngày tết, khi người thân qua đời và những món ăn chế biến trở thành món đặt trưng.

Muốn làm món thịt trâu nướng, người ta chọn những miếng thịt đùi có thớ thịt khá dày đem cắt nhỏ thành hình chữ nhật to bằng hai đốt của ngón tay giữa. Sau đó, dùng xiên tre xiên thành lụi rồi đem nướng qua lửa than hồng chứ không tẩm bất kỳ một gia vị nào. Đó là thịt trâu nướng trần.

Còn một cách khác là thịt trâu cũng cắt như vậy nhưng sau đó đem quấn lá lốt rồi mới nướng. Để thịt chín đều, xiên được vót dài rồi trở liên tục để thịt không cháy. Trước lúc nướng, người ta lấy muối hột giã với ớt hiểm để sẵn. Thịt vừa nướng xong được bày ra lá chuối rồi cứ vậy chấm ăn ngay với muối ớt.

Cùng với món thịt trâu nướng, người H’re còn làm món thịt trâu nấu xà bần. Người ta chọn đoạn ruột non, huyết, da, thịt cắt thành miếng (cũng bằng hai đốt ngón tay giữa) rồi đem rửa sạch. Sau đó cho tất cả vào nồi đồng và đổ nước xâm xấp để nấu khoảng ba mươi phút đến khi gần chín thì nhắc xuống bếp bỏ lá sưng (còn gọi là lá Poot) và trái sả (trái m’du) để món xà bần thơm, ngon hơn.

Ngày xưa, khi ăn món thịt trâu nấu xà bần không phải dùng tô bát như bây giờ. Khi nồi xà bần đã chín, mọi người ngồi xung quanh dùng mo cau quấn thành cái gáo để múc thịt cho mình.

Cùng với hai món chế biến bằng thịt trâu, đồng bào dân tộc H’re ở Ba Tơ còn có món cá niêng nướng. Cá niêng sống ở những dòng thác, ăn rong rêu và phù du nên khá sạch và thịt rất thơm. Cá niêng ngon nhất là khi to bằng ba ngón tay.

Món cá niêng nướng chấm muối ớt

Cá bắt được dùng xiên tre đem lụi nướng trên vỉa than hồng. Khi vừa chín tới đem chấm muối sống giã với ớt hiểm để ăn thì thịt cá rất béo, ruột vừa đăng đắng vừa bùi. Nếu không muốn nướng, thì đem luộc rồi chấm với muối ớt. Dùng món cá niêng nếu có thêm rau húng, rau thơm ăn kèm sẽ hấp dẫn hơn.

Một điều khác biệt với người Kinh là người H’re ăn xong rồi mới uống rượu. Thức uống đặt trưng trong ngày tết của họ là món rượu cần. Rượu cần được ngâm ủ từ củ mì, hoặc cơm và men. Điều độc đáo ở rượu cần là sau khi ngâm ủ đem mở ra uống thì dùng nước lạnh để tiếp vào ché rượu.

Trong ngày tết, sau khi ăn thịt trâu, uống rượu cần và trong khi đã chếnh choáng men say đồng bào dân tộc H’re thường nhảy múa quanh đống lửa hồng trước đó dùng để nướng thịt, đánh đàn Bờ- Rot, đánh chiêng, hát điệu Xà Ru.

Những món ẩm thực của đồng bào H’re ngày xưa hiện đã được Bảo tàng Ba Tơ đầu tư dựng lại trong khuôn viên bảo tàng. Du khách đến bảo tàng sau khi xem hình ảnh, tư liệu hiện vật được trưng bày có thể thưởng thức những món ăn thức uống này ngay tại đó để hiểu rõ hơn về ẩm thực dân dã mà hấp dẫn của đồng bào dân tộc H’re.

Đăng tin: Hà Phương

Nguồn tin: Võ Quý Cầu – Tuổi Trẻ

Ẩm thực ngoại ở Đà Nẵng

Tìm đến những nhà hàng ngoại để thưởng thức các món đặc sản từ các nước cũng là lựa chọn của nhiều bạn trẻ Đà Nẵng.

Tìm đến những nhà hàng ngoại để thưởng thức các món đặc sản từ các nước cũng là lựa chọn của nhiều bạn trẻ Đà Nẵng.

Ở Đà Nẵng hiện có khoảng trên 20 nhà hàng, khách sạn kinh doanh ẩm thực ngoại (chỉ tính những địa điểm có tính chuyên biệt). Các đơn vị này chủ yếu hoạt động độc lập theo hình thức kinh doanh tư nhân, nộp thuế cho Nhà nước.

Và theo ông Lê Tấn Thanh Tùng, Trưởng phòng Điều hành Công ty Lữ hành Vitours thì, “Điều còn thiếu bây giờ là sự liên kết giữa các đơn vị này để hình thành các khu ẩm thực có quy mô, tập trung trong các ngày lễ, ngày cuối tuần thì sức hút đối với du khách sẽ khả quan hơn. Tất nhiên đây không phải là chuyện ngày một, ngày hai và cần có sự tham mưu của các cấp chính quyền”.

Ngoại 80%…

Đó là nhận xét của một người Singapore khi đến thưởng thức các món ăn tại nhà hàng Singapore Lioncity thuộc khách sạn Sông Thu, mới mở trên đường Trần Phú. Sales Executive của nhà hàng, anh Nguyễn Công Ngọc cho biết: “Tại nhà hàng, từ nguyên liệu cho đến công nghệ chế biến đều từ Sin, tất nhiên có qua bước trung gian là Sài Gòn. Cách bài trí nhà hàng, trang phục, thái độ phục vụ của nhân viên… đều theo phong cách Sin.

Tuy nhiên, ở đây người Hoa sinh sống không đông như Sài Gòn nên đối tượng phục vụ chủ yếu vẫn là người Việt, những người thích làm phong phú khẩu vị thường ngày, hay muốn tạo một không gian đặc biệt cho người thân, những người bạn đặc biệt, những đối tác làm ăn quan trọng… do đó, phong vị món ăn phần nào đó cũng tự nhiên thích ứng với khẩu vị Việt chứ không thể 100% nguyên bản Singapore”.

Chị Trần Thị Quyên, Phó Giám đốc phụ trách Nhà hàng Phì Lũ 3 cũng có chung lý giải: “Nhập gia phải tùy tục” em à, bên cạnh các món Trung Quốc, Phì Lũ còn linh động làm một số món Đà Nẵng theo nhu cầu của khách hàng. Bố chị là người gốc Hoa, nhưng ông không có ý kiến gì về điều này”.

“Một thực tế không ai phủ nhận là khách du lịch đến Đà Nẵng thường nghỉ lại khoảng một ngày đêm, nhiều lắm là hai ngày và người ta sẽ dành thời gian ngắn ngủi này để thưởng thức các đặc sản của Đà Nẵng và đương nhiên, chuyện tìm lại phong vị quê nhà trên đất khách là hơi khó. Nên đối tượng phục vụ chủ yếu của các nhà hàng ẩm thực ngoại ở Đà Nẵng nếu là người ngoại quốc thì chỉ có những người sống và làm việc lâu năm ở đây, và số này không nhiều so với tổng dân số toàn thành phố”. Ông Lê Tấn Thanh Tùng, Trưởng phòng Điều hành Công ty Lữ hành Vitours nói về cái khó của các đơn vị doanh nghiệp kinh doanh ẩm thực ngoại ở Đà Nẵng.

Ưu thế phong vị châu Á

Đến Đà Nẵng, người ta sẽ nghe nói nhiều về các nhà hàng Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore… thể hiện ưu thế đặc biệt của ẩm thực châu Á trên đất Đà thành. “Điều này cũng dễ hiểu, vì chúng ta là người châu Á, ngoài phục vụ đối tượng khách hàng lớn là người sở tại (như trên đã nói), người làm ăn và khách du lịch từ các nước châu Á đến Đà Nẵng những năm gần đây luôn chiếm số đông. Cung phải được nảy sinh từ cầu. Đó là điều tất yếu”, Trưởng phòng Điều hành Công ty Lữ hành Vitours lý giải.

Chủ nhà hàng Mr Pizza (45 Trần Phú) cho hay: “Mặc dù ở tiệm chúng tôi, các món ăn mang đặc trưng của ẩm thực Ý, nhưng khi khách hàng có nhã ý muốn thêm một vài gia vị cho hợp với thói quen ăn uống của người Việt thì mình sẽ không thấy phiền, miễn là các yêu cầu không làm thay đổi quá lớn cấu trúc và hương vị đặc trưng của nước Ý”.

Lê Hoàng Anh, sinh viên Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng thường dẫn bạn gái đến Mr Pizza vì ở đây đồ ăn ngon, không gian nhà hàng ấm cúng. Cũng như Hoàng Anh, mỗi người đều chọn cho mình lý do để tự “sở hữu” một nhà hàng “ruột” nào đó.

Mỗi nơi một phong cách, có thể nói, sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà hàng, khách sạn kinh doanh ẩm thực ngoại tại Đà Nẵng trong những năm gần đây đã góp thêm những sắc màu văn hóa phong phú đến đời sống của cư dân nơi đây.

Theo Báo Đà Nẵng